PHÂN TÍCH CÁC HÌNH ẢNH ẨN DỤ VỀ MÙA TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
ThS. Đinh Diệu Anh-
Khoa Ngôn ngữ Pháp, Đại học Phenikaa
Email: [email protected]
Tóm tắt: Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện đặc trưng phong phú của văn học Việt Nam qua ngôn ngữ thơ tinh tế và hình ảnh văn hóa đặc sắc. Gồm 3.254 câu thơ lục bát, tác phẩm sử dụng đa dạng thành ngữ, tục ngữ, điển cố lịch sử và các biện pháp tu từ, trong đó nổi bật là hệ thống ẩn dụ liên quan đến bốn mùa. Bài viết này tập trung khảo sát hình ảnh ẩn dụ về mùa, chủ yếu là mùa xuân, nhằm phân tích giá trị ngôn ngữ và ý nghĩa văn hóa mà chúng mang lại trong mạch truyện. Kết quả nghiên cứu cho thấy chủ đề về mùa là một yếu tố phổ quát trong văn học thế giới, vì nó phản ánh sâu sắc những trải nghiệm của con người. Qua việc phân tích kỹ lưỡng các ẩn dụ mùa xuân trong Truyện Kiều, bài viết làm sáng tỏ nhiều tầng nghĩa phong phú như tuổi trẻ, tình yêu, vẻ đẹp và dòng chảy của thời gian. Đồng thời, bằng cách đối chiếu với truyền thống văn học phương Đông và phương Tây, nghiên cứu chỉ ra ý nghĩa vừa phổ quát vừa mang tính bối cảnh đặc thù của các ẩn dụ về mùa xuân, góp phần làm sâu sắc thêm nhận thức về nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du cũng như giá trị văn hóa của tác phẩm.
Từ khóa: Nguyễn Du, ẩn dụ, mùa, văn học Việt Nam, ngôn ngữ.

Hội thảo khoa học quốc gia "Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương:
Danh nhân - Thi hào - Giá trị di sản"
1. Đặt vấn đề
Truyện Kiều, hay Kiều, của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm quan trọng của nền văn học Việt Nam bởi ngôn ngữ thơ ca phong phú và tinh tế. Từ tổng cộng 3.254 câu thơ theo thể lục bát, tác giả đã sử dụng một lượng lớn thành ngữ, tục ngữ, các điển tích lịch sử và văn hóa, cùng hàng loạt biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, v.v. Trong số các biện pháp nghệ thuật đó, chúng tôi lựa chọn các hình ảnh ẩn dụ về mùa làm đối tượng nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa. Cơ sở cho lựa chọn này là chức năng đặc biệt của những hình ảnh này trong tác phẩm. Trên thực tế, chủ đề bốn mùa đóng vai trò quan trọng trong nền văn học thế giới. Sự thay đổi của thời tiết gắn liền mật thiết với đời sống thường ngày của con người (như mùa màng, thực phẩm, trang phục, nơi ở, v.v.). Do đó, những hình ảnh ẩn dụ về mùa được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm văn học từ Đông sang Tây. Về mặt nghệ thuật, chúng ta có thể thấy rõ sự tương đồng về ý nghĩa hàm chứa trong các ẩn dụ về mùa giữa hai nền văn học.
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này, chúng tôi sẽ tìm hiểu và phân tích ý nghĩa ngôn ngữ cũng như văn hóa của các hình ảnh ẩn dụ về mùa xuất hiện trong Truyện Kiều.
Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý thuyết để nghiên cứu vấn đề này là phép ẩn dụ trong ngôn ngữ học. Trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, ẩn dụ được hiểu là một phương thức chuyển đổi tên gọi thông qua sự so sánh ngầm giữa các sự vật có điểm tương đồng hoặc sự giống nhau. Đỗ Hữu Châu (1962) quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên gọi của một sự vật hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng”. Nguyễn Thiện Giáp (1998) cũng khẳng định: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”. Tương tự, Nguyễn Đức Tồn (2007) khẳng định rằng bản chất của phép ẩn dụ là “phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm thuộc tính của sự vật này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng”.
Từ những nhận định về phép ẩn dụ, các tác giả đã đồng thuận rằng nền tảng của phép ẩn dụ chính là sự tương đồng giữa hai đối tượng. Theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1993), “Phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng”.
Căn cứ vào định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ, bài báo này xác định các ẩn dụ về mùa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, phân tích chúng trên bình diện ngữ nghĩa và văn hóa.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Hình ảnh “mùa xuân” trong Truyện Kiều
Từ “xuân” xuất hiện khá thường xuyên trong Truyện Kiều. Trong các phiên bản khác nhau của tác phẩm này, từ “xuân” xuất hiện khoảng 60 lần trên tổng số 3.254 câu thơ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu tham khảo phiên bản nổi tiếng nhất, được hiệu đính bởi Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim. Trong số những lần xuất hiện của từ “xuân”, có một số trường hợp không hề mang nghĩa “mùa xuân” mà chỉ là từ đồng âm, chẳng hạn như “xuân” trong các cụm từ như “xuân huyên”, “xuân già”, “cỗi xuân”, “xuân đình”, v.v. Từ nguyên của thuật ngữ này bắt nguồn từ tên của một loài thực vật (trong tiếng Trung: 大椿) trong lịch sử Trung Quốc, dùng để chỉ “người cha”.
Sau khi loại bỏ các trường hợp đồng âm, hình ảnh “mùa xuân” được đề cập gần 40 lần. Chúng tôi phân loại các trường hợp này thành các nhóm ý nghĩa sau: tuổi trẻ, tình yêu, tình dục, sắc đẹp và các ý nghĩa khác. Qua việc phân tích, chúng tôi sẽ làm rõ thông điệp của những biểu đạt ẩn dụ này trong một bối cảnh xác định.
2.1.1. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa tuổi trẻ
Trong nhiều nền văn hóa, mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ, và văn hóa Việt Nam cũng không ngoại lệ. Thật vậy, mùa xuân luôn đại diện cho sự khởi đầu của một năm, là khoảng thời gian tươi mới khi muôn loài sinh vật và cây cỏ đâm chồi nảy lộc. Do đó, có rất nhiều ẩn dụ về mùa xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhằm chỉ tuổi trẻ. Tuy nhiên, ý nghĩa của các hình ảnh này cũng thay đổi tùy theo ngữ cảnh cụ thể.
Có 13 cụm từ chứa chữ “xuân” mang nghĩa tuổi trẻ trong Truyện Kiều, có thể kể đến như “xuân xanh”, “khóa xuân”, “ngày xuân”, “hoa xuân”, “thanh xuân”, v.v. Đặc điểm chung của chúng là ám chỉ giai đoạn đầu cuộc đời của các nhân vật trong Truyện Kiều như Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng. Cũng có những ẩn dụ đặc biệt như “nửa chừng xuân” nói lên cái chết đột ngột của Đạm Tiên đương tuổi đời còn rất trẻ (“Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”), hoặc mang nghĩa đau buồn khi tuổi xuân của Kiều phai tàn do những biến cố xảy ra trong mười bốn năm lưu lạc phong trần (“Mười phần xuân có gầy ba, bốn phần.”)
Đáng chú ý, trong số chúng, có hai cụm từ bắt nguồn từ điển tích lịch sử - văn học là “khóa xuân” và “xuân tình”.
Từ “khóa xuân” xuất hiện trong câu “Một nền Đồng Tước khóa xuân nhị Kiều”. Để hiểu được cụm từ “khóa xuân”, trước tiên cần phân tích toàn bộ câu thơ. Câu thơ này đề cập đến điển tích văn học trong tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc Tam Quốc Diễn Nghĩa của tác giả La Quán Trung. Trong tác phẩm này, có tình tiết hai chị em họ Kiều ở Giang Đông xinh đẹp đến nỗi Tào Tháo, người đứng đầu phe Ngụy, muốn bắt giữ và nhốt họ trong Đồng Tước Đài. Từ câu chuyện này, thi sĩ nổi tiếng Trung Quốc Đỗ Mục đã viết hai câu thơ: « 東風不與周郎便,/銅雀春深鎖二喬 » (Đông phong bất dữ Chu lang tiện, / Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.). Mùa xuân của Đồng Tước Đài chính là ổ khóa để giam giữ hai nàng Kiều. Tuy nhiên, Nguyễn Du viết: "Đồng Tước Đài khóa xuân của hai Kiều." Hai Kiều đại diện cho hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân vì họ đều xinh đẹp, tài năng và có tiếng trong khu vực. Tuy nhiên, mùa xuân trong câu thơ của Nguyễn Du khác với mùa xuân trong thơ của Đỗ Mục. Mùa xuân ở đây là tuổi trẻ của hai chị em. Điều này có nghĩa là gia đình Vương có hai cô con gái trẻ đẹp luôn ở trong nhà. Trong thời kỳ phong kiến phương Đông, các cô gái chưa kết hôn không được phép ra ngoài thường xuyên. Do vậy, tuy câu thơ của Nguyễn Du có phần giống với Đỗ Mục, nhưng từ “xuân” lại mang nghĩa khác nhau.
Một điển tích khác xuất hiện trong hai câu thơ “Khúc đâu êm ái xuân tình / Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên?”. Từ “xuân tình” ở đây không mang nghĩa tình yêu như nhiều người lầm tưởng, mà mang nghĩa “nỗi nhớ, nỗi hoài niệm về tuổi trẻ”. Sở dĩ có thể lý giải như vậy vì từ này kết nối với điển tích về Thục Đế. Thuật ngữ « xuân tình » (dịch nghĩa sang tiếng Pháp là « le sentiment du printemps ») mang ý nghĩa nỗi nhớ tuổi trẻ. Theo truyền thuyết Trung Quốc, khi vua nước Thục mất nước, ông đã hóa thành chim đỗ quyên. Tiếng kêu của loài chim này là lời kêu gọi thống thiết đến quê hương của ông. Tiếng hót của nó cũng gắn liền với nỗi tiếc nuối mùa xuân, vì đỗ quyên thường kêu khi mùa hè đến. Trong hai câu thơ này, tác giả đã so sánh âm thanh của tiếng nhạc do Thúy Kiều tạo ra với tiếng hót của đỗ quyên, và âm nhạc ấy gợi nhớ đến nỗi tiếc nuối, nỗi nhớ về tuổi trẻ, nỗi nhớ thời xuân.
2.1.2. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa tình yêu
Song song với tuổi trẻ, tình yêu cũng đóng vai trò quan trọng trong các ẩn dụ mùa xuân. Mùa xuân là mùa của tình yêu, của những cuộc gặp gỡ, của lãng mạn. Hầu hết các sự kiện hạnh phúc trong cuộc đời của Kiều diễn ra vào thời điểm này trong năm. Trong phần này, chúng tôi không chỉ trình bày các ẩn dụ mùa xuân diễn tả ý nghĩa của tình yêu mà còn cả những biến thể của nó như người yêu, trái tim yêu thương, v.v.
Có hẳn 14 ẩn dụ tình yêu dưới lớp vỏ ngôn từ “mùa xuân” xuất hiện trong Truyện Kiều. Trong số đó, ngoài các hình ảnh “xuân” được thay thế cho từ tình yêu như “tin xuân” (thư tình), “đêm xuân” (đêm tình yêu), v.v. từ “xuân” còn ẩn dụ cho “người yêu”. Ví dụ như từ “lượng xuân” (tấm lòng người yêu) hay chữ xuân trong câu “Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân”.
Cũng trong nghĩa này, từ “xuân khóa” xuất hiện trong câu “Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong” tham chiếu câu thơ của Đỗ Mục đã nói ở phần trước. Tuy nhiên, khác với câu thơ trước, “xuân” trong câu này là tình yêu đã bủa vây và giam giữ Thúy Kiều như hai nàng Đại Kiều và Tiểu Kiều của Tam Quốc. Theo Lê Văn Hòe (1953), xét về mặt diễn biến câu chuyện, thời điểm Kiều đến trú phường của Tú Bà không thể là vào mùa xuân nên từ “xuân” ở đây chỉ có thể là tình yêu.
“Khóa xuân” cũng xuất hiện thêm hai lần nữa trong câu “Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non” và “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”. Hai cụm từ « khóa buồng xuân » và « khóa xuân » có cùng một ý nghĩa. Chúng ám chỉ việc nhốt tình yêu của Kiều trong căn phòng của nàng tại lầu Ngưng Bích.
Ngoài “xuân khóa”, trong số các hình ảnh mùa xuân mang nghĩa tình yêu, “cành xuân” trong câu thơ “Khi về hỏi liễu Chương Đài, / Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay” cũng bắt nguồn từ điển tích văn học. Cành xuân chính là người yêu của Kim Trọng, Thúy Kiều. Hai câu thơ này liên quan đến điển tích về nàng họ Liễu đường Chương Đài, Trường An, Trung Quốc. Vào thời Đường, có một chàng trai tên Hàn Hoành đã phải lòng nàng kỹ nữ họ Liễu. Khi Hàn Hoành công tác xa khỏi Trường An, chàng viết thư hỏi thăm nàng Liễu, liệu cành có còn hay đã bị ai bẻ đi. Khi Hàn Hoành trở về, tìm lại người yêu, chàng hay tin nàng Liễu đã cưới người khác. Tương tự với tình cảnh của Kiều và Kim Trọng, Kiều tự hỏi, khi Kim Trọng trở lại tìm nàng sau ba năm để tang, có lẽ chỉ được nghe tin nàng đã làm vợ người khác.
2.1.3. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa “tình dục”
Tình dục là một chủ đề cấm kỵ trong văn hóa phương Đông. Trong văn học, cũng như trong đời sống hàng ngày, người ta thường sử dụng uyển ngữ khi nhắc đến chủ đề này, chẳng hạn như “mây mưa”, “trăng hoa”, “ong bướm”, v.v. và mùa xuân cũng là một trong số đó.
Từ “đêm xuân” xuất hiện trong hai câu thơ “Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng” và “Đêm xuân một giấc mơ màng” đều ám chỉ chuyện phòng the. “Giấc mộng đêm xuân” là giấc mơ tình dục của Kim Trọng tơ tưởng về nàng Kiều. Điều này càng được khẳng định khi câu thơ trước đó nhắc đến “Đỉnh Giáp non Thần”, điển tích về giấc mộng tình ái. Còn “đêm xuân” của “Đêm xuân một giấc mơ màng” tượng trưng cho hành vi tình dục của Kiều và Mã Giám Sinh. Toàn bộ câu thơ chỉ thời điểm sau khi hai người có quan hệ tình dục. Cần nhấn mạnh rằng, đêm xuân ở đây không chỉ thời điểm mùa xuân, xét theo cốt truyện như đã đề cập ở trên.
2.1.4. Ẩn dụ mùa xuân mang nghĩa “vẻ đẹp”
Tượng trưng cho một thời điểm đẹp trong năm, mùa xuân cũng xuất hiện năm lần trong các ẩn dụ để miêu tả vẻ đẹp.
Từ “xuân” ẩn dụ vẻ đẹp thường nằm trong các cụm từ bắt nguồn từ thơ cổ như “xuân lan, thu cúc” và “làn thu thủy, nét xuân sơn”. Trong cụm “xuân lan, thu cúc”, hai bông hoa tượng trưng cho vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân đang ở độ tuổi thanh xuân tươi đẹp. Họ thanh thoát như những đóa hoa nở rộ trong mùa của mình, rực rỡ nhưng cũng chỉ trong một khoảng thời gian. Hơn nữa, chúng còn thể hiện sự khác biệt trong vẻ đẹp của họ: cả hai đều xinh đẹp, nhưng mỗi người lại có những nét riêng biệt.
Tương tự, trong các bài thơ cổ của Trung Quốc, phép so sánh “lông mày như núi mùa xuân” thường được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp của phụ nữ. Theo quan niệm cổ xưa ở phương Đông, lông mày được coi là đẹp nếu chúng cong và có màu đậm như hình dáng và màu sắc của núi vào mùa xuân. Hơn nữa, phép so sánh này phổ biến đến mức mà cụm từ “núi mùa xuân” được biết đến với ý nghĩa tương đương là “lông mày đẹp”. Do vậy, hình ảnh ẩn dụ “nét xuân sơn” được dùng để tả vẻ đẹp của Thúy Kiều.
2.1.5. Một số ý nghĩa khác của ẩn dụ mùa xuân
Ngoài những ý nghĩa mà chúng tôi đã phân tích ở trên, mùa xuân còn có một số ý nghĩa ẩn dụ khác.
Đầu tiên là ẩn dụ “ba xuân” trong câu thơ “Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân”. Hình ảnh “tấc cỏ” và “ba xuân” đều được mượn từ bài thơ Du Tử Ngâm của thi sĩ Mạnh Giao đời Đường. “Ba xuân” ở đây là ba tháng của mùa xuân, tượng trưng cho công ơn của cha mẹ, và “tấc cỏ” là người con. Kiều cũng sử dụng những ẩn dụ này và thể hiện trái tim quyết tâm và hy sinh của mình để bày tỏ lòng biết ơn với cha mẹ.
Tiếp đến là “xuân thu”, từ ghép giữa hai mùa xuân và thu để thay thế cho khoảng thời gian “một năm”. Từ “xuân” cũng chỉ thời gian trong từ “bảng xuân”. Bảng xuân là bảng danh sách các sĩ tử đỗ đạt thời phong kiến, sở dĩ gọi vậy là vì danh sách này thường được công bố vào mùa xuân.
“Xuân” cũng xuất hiện với mục đích điểm sắc thêm hương trong từ “giấc xuân”. Giấc xuân nghĩa là giấc ngủ của một người con gái đẹp.
2.2. Hình ảnh “mùa thu” trong Truyện Kiều
Mùa thu xuất hiện trong nhiều bài thơ Việt Nam. Mùa này thường được coi là một nguồn cảm hứng quan trọng cho văn học Việt Nam, gắn liền với nỗi lo âu, sự sầu muộn, và cả vẻ đẹp. Từ “thu” được nhắc đến 17 lần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, trong đó có 11 hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ. Mười một trường hợp này sẽ được phân loại vào các nhóm nghĩa: nỗi buồn, thời gian và đôi mắt. Chúng tôi đã giải thích trong đoạn trước về hai hình ảnh mùa thu đi kèm với mùa xuân trong các cụm từ “xuân thu” và “xuân lan, thu cúc”, do đó sẽ không nhắc lại ở đây.
2.2.1. Ẩn dụ mùa thu ám chỉ “nỗi buồn”
Trong phần này, chúng tôi sẽ thảo luận về các hình ảnh liên quan đến mùa thu được sử dụng để miêu tả và nhấn mạnh nỗi u sầu của các nhân vật. Nguyễn Du thường sử dụng miêu tả cảnh vật để thể hiện tâm trạng của nhân vật. Như ông đã viết trong tác phẩm này: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thực tế, hầu hết các biến cố bất hạnh của Kiều đều diễn ra vào mùa thu.
Thật vậy, mỗi lần chia xa của Thúy Kiều đều diễn ra vào mùa thu. Từ “Rừng thu từng biếc xen hồng” đến “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, có thể thấy, Nguyễn Du luôn muốn dùng sắc thu, cảnh thu để nhấn mạnh và phóng đại nội tâm u sầu của nhân vật. Trong câu “Một trời thu để riêng ai một người”, chính hình ảnh trời thu vẽ lên không khí sầu thảm của Kiều khi phải rời xa gia đình.
2.2.2. Ẩn dụ mùa thu mang nghĩa “thời gian”
Thu không chỉ là một mùa, mà đôi khi còn hơn thế. Ngoài “xuân thu”, Nguyễn Du còn sử dụng hai ẩn dụ mùa thu lấy từ điển tích văn học để chỉ thời gian.
“Ba thu” trong câu “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” là một ẩn dụ được trích từ “Kinh Thi” của Trung Quốc. Trong tác phẩm kinh điển này, có một câu: “Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề” (Một ngày không gặp, tưởng như đã cách biệt ba thu). Ba thu ở đây ám chỉ khoảng thời gian ba năm. Khi Kim Trọng không thể gặp Kiều, anh cảm thấy một ngày xa cách dài như ba năm, vì nỗi nhớ nhung người yêu quá mãnh liệt. Cần lưu ý rằng “ba” là một con số mang tính biểu tượng, không phải con số chính xác, thường được sử dụng trong văn học Việt Nam để mô tả một khoảng thời gian.
Tiếp đó, cụm từ “nghìn thu” (“Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”) không chỉ mang nghĩa là khoảng thời gian “nghìn năm”, mà còn ám chỉ một khoảng thời gian rất dài, kéo dài suốt chiều dài lịch sử, từ cổ chí kim. Đây là một cụm từ thường được sử dụng trong văn học Việt Nam để chỉ sự vĩnh cửu.
2.2.3. Ẩn dụ mùa thu mang nghĩa “đôi mắt phụ nữ”
Trong văn học Việt Nam và Trung Quốc, hình ảnh mùa thu thường được gắn với đôi mắt của phụ nữ, thậm chí được sử dụng như từ ngữ thay thế. Các trường hợp ẩn dụ trong Truyện Kiều dưới đây sẽ được phân tích và làm rõ nhận định này.
Đầu tiên, tương tự như “nét xuân sơn”, hình ảnh “làn thu thủy” có nguồn gốc từ một phép so sánh rất phổ biến, cụ thể là “đôi mắt như làn nước mùa thu”. Phép so sánh này được sử dụng phổ biến trong văn học phương Đông, khiến độc giả liên tưởng ngay đến đôi mắt xinh đẹp, trong veo, lấp lánh và tĩnh lặng như mặt nước vào mùa thu.
Chính vì vậy, hai ẩn dụ “nét thu” (“Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”) và “thu ba” (“Nàng càng ủ dột thu ba”) là cách sử dụng mở rộng của ẩn dụ “nước thu”. “Nét thu” và “thu ba”, tức gợn sóng của nước vào mùa thu, miêu tả đôi mắt của nàng Kiều hiện lên những xao động, xuyến xao, lóng lánh trước tình yêu của Kim Trọng.
Ngoài ra, ẩn dụ “dòng thu”, viết gọn của dòng nước mùa thu, cũng là ẩn dụ phái sinh của “nước thu”. Ẩn dụ tượng trưng cho dòng nước chảy ra từ một hồ nước vào mùa thu, tức là dòng lệ của Kiều. Những giọt nước mắt của nàng tuôn rơi như cơn mưa đầy nỗi buồn.
2.3. Hình ảnh “mùa hè” và “mùa đông” trong Truyện Kiều
Mùa hè và mùa đông không xuất hiện nhiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Chúng tôi chỉ ghi nhận hai ẩn dụ có chứa các từ này trong toàn bộ tác phẩm, và chúng được dùng để miêu tả thời gian.
Cụm từ “ba đông” xuất hiện trong câu “Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông” tương ứng với thời gian để tang kéo dài ba năm. Theo nghi thức tang lễ truyền thống của Trung Quốc phong kiến, sau khi cha mẹ qua đời, con cái phải để tang trong vòng ba năm và không thể kết hôn trong thời gian đó. Vì vậy, do cái chết của người chú, Kim Trọng không thể kết hôn với Kiều.
Điều đáng chú ý là cách tác giả Nguyễn Du chọn từ ngữ để diễn tả khoảng thời gian “ba năm”. Ông đã đa dạng hóa các ẩn dụ theo mùa, thể hiện sự khác biệt trong sắc thái ẩn dụ của những từ này. Cụ thể, mùa xuân là mùa của tình yêu, tuổi trẻ, trong khi mùa thu tượng trưng cho nỗi buồn, sự chia ly; còn mùa đông biểu thị cái chết và nỗi khổ đau.
Hình ảnh mùa hè chỉ xuất hiện trong câu “Dưới trăng quyên đã gọi hè”. Câu thơ này ám chỉ dấu hiệu của sự thay đổi mùa. Chim cuốc là một loài chim thường xuất hiện vào mùa hè. Tiếng kêu của chim cuốc báo hiệu mùa hè đang tới.
2.4. Thảo luận
Ẩn dụ về mùa cũng xuất hiện thường xuyên trong văn học phương Tây. Trong L’Étranger (Người xa lạ) của Albert Camus, tác giả sử dụng hình ảnh cái nóng của mùa hè để ẩn dụ cho sự ngột ngạt của cảm xúc và tình huống mà nhân vật chính Meursault phải đối mặt. Hay trong Mémoires d'outre-tombe (Hồi ký bên kia nấm mộ) của Chateaubriand, ông sử dụng ẩn dụ “l’hiver de ma vie” (mùa đông của cuộc đời tôi) để nói về giai đoạn cuối đời, khi mọi thứ dần đi vào trạng thái tĩnh lặng. Ngoài ra, mùa xuân cũng là hình ảnh tượng trưng cho tuổi trẻ, tình yêu, hy vọng xuất hiện trong các thi phẩm của Paul Éluard, Charles Baudelaire, Victor Hugo. Hay trong thi phẩm Chanson d’automne (Bài ca mùa thu) của Paul Verlaine, hình ảnh mùa thu cũng đại diện cho nỗi buồn và sự suy tàn.
Từ đó, có thể thấy, do những nét đặc trưng của mùa nên ẩn dụ về mùa trong văn học phương Đông và phương Tây cũng có những nét tương đồng về nghĩa.
3. Kết luận
Dựa trên các định nghĩa về ẩn dụ, chúng tôi đã thống kê được gần 60 ẩn dụ về các mùa trong tiếng Việt trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và tiến hành phân tích các thông điệp mà chúng truyền tải, dựa trên bối cảnh và các tham chiếu văn hóa của chúng. Trong số đó, các ẩn dụ về mùa xuân xuất hiện nhiều nhất. Những hình ảnh ẩn dụ có thể tượng trưng cho các khái niệm như tuổi trẻ, tình yêu, tình dục, hoặc thể hiện vẻ đẹp và cảm xúc. Ngoài ra, một số ẩn dụ còn liên quan đến các điển tích văn học hoặc lịch sử.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1993). Phong cách học tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục.
[2]. Đỗ Hữu Châu (1962). Giáo trình Việt ngữ. Hà Nội: NXB Giáo dục.
[3]. Nguyễn Du, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (chủ biên) (2018). Truyện Thúy Kiều. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.
[4]. Nguyễn Du, Đào Duy Anh (chủ biên) (2020). Truyện Kiều. Hà Nội : Nhà xuất bản Văn học.
[5]. Nguyễn Du, Lê Văn Hòe (chủ biên) (1953). Truyện Kiều chú giải. Hà Nội : Quốc-Học-Thư-Xã.
[6]. Nguyễn Đức Tồn (2007). Bản chất của ẩn dụ. Tạp chí Ngôn ngữ (11).
[7]. Nguyễn Thiện Giáp (1998). Từ vựng học tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Giáo dục