PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ NHÂN QUYỀN TRONG BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Chu Xuân Đại Thắng, Học viện Chính trị
Trịnh Thị Thúy, Trường Đại học Nguyễn Huệ
Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với giá trị nhân quyền trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với lập luận khoa học, bài viết khẳng định Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố nền độc lập dân tộc mà còn đặt nền móng tư tưởng cho quyền con người ở Việt Nam, kết hợp chặt chẽ giữa quyền dân tộc tự quyết và quyền con người. Qua đó, bài viết bác bỏ các luận điệu sai trái, bảo vệ giá trị lịch sử, pháp lý và nhân văn sâu sắc của Tuyên ngôn Độc lập.
Từ khóa: Phản bác luận điệu; xuyên tạc; giá trị nhân quyền; Tuyên ngôn độc lập
Nhận bài: 07/09/2025; Biên tập: 09/09/2025; Duyệt đăng: 09/09/2025
1. Đặt vấn đề
Ngay từ khi ra đời, Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc ta, mà còn trở thành một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn về chính trị, pháp lý và nhân quyền. Tuy nhiên, chính những giá trị ấy cũng khiến các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí tìm cách xuyên tạc, phủ nhận và bôi nhọ. Việc nhận diện, phản bác và đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân và giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội.

2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Nhận diện luận điệu xuyên tạc, sai trái
Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường sử dụng là cho rằng Bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam do Hồ Chí Minh công bố với toàn thể quốc dân, đồng bào và thế giới “không có giá trị sáng tạo, chỉ sao chép từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp”. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, những kẻ giả danh dân chủ, nhân quyền và các hãng truyền thông ở hải ngoại định kiến với Việt Nam xuyên tạc rằng người dân hiện nay đang sống trong tình trạng “bị kìm kẹp, không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội”… Đây là những nhận định phiến diện, cố tình bóp méo sự thật lịch sử. Những luận điệu này thường được phóng đại, cắt xén hoặc dựa vào một vài trường hợp cá biệt, sai phạm cá nhân bị xử lý hình sự theo đúng quy định của pháp luật để quy chụp, đổ lỗi cho cả chế độ.
Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội trở thành công cụ hữu hiệu để các thế lực thù địch tuyên truyền xuyên tạc. Họ lập ra hàng loạt trang web, fanpage, kênh YouTube, tài khoản ẩn danh… để phát tán thông tin sai sự thật về tình hình nhân quyền ở nước ta, bôi nhọ Bản Tuyên ngôn độc lập và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các lực lượng phản động, cơ hội chính trị khai thác tâm lý hiếu kỳ, dễ chia sẻ của một bộ phận người dân, đặc biệt là giới trẻ, để lan truyền tin giả, bóp méo thông tin, tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn trong xã hội.
Mục đích của những luận điệu sai trái là phủ nhận thành quả cách mạng, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu sức mạnh quốc gia. Thông qua việc xuyên tạc nhân quyền, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị muốn gây sức ép chính trị, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước, từng bước làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; cản trở tiến trình hội nhập quốc tế, tác động tiêu cực đến hình ảnh và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Do đó, nhận diện và đấu tranh phản bác là nhiệm vụ cấp thiết để bảo vệ giá trị bất diệt của Bản Tuyên ngôn độc lập, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và thành quả cách mạng.
2.2. Giá trị nhân quyền bất diệt của Bản Tuyên ngôn độc lập
Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [1]. Đây là sự phát triển sáng tạo của tư tưởng nhân quyền, nâng từ phạm vi cá nhân lên phạm vi cộng đồng dân tộc, gắn chặt quyền con người với quyền dân tộc. Chính vì vậy, giá trị nhân quyền trong Tuyên ngôn độc lập không chỉ mang tính phổ quát mà còn mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo tinh hoa tư tưởng nhân quyền, dân quyền của nhân loại để khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, đồng thời tố cáo mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa thực dân, phát xít. Giá trị nhân quyền trong bản Tuyên ngôn không chỉ nằm ở sự tham chiếu mà quan trọng hơn là ở tính kế thừa và sáng tạo, gắn liền với bối cảnh cách mạng Việt Nam. Thực tế, Bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ tuyên bố nền độc lập dân tộc mà còn khẳng định mạnh mẽ quyền con người ở Việt Nam, đặt nhân dân ở vị trí chủ thể của quyền lực nhà nước. Bằng việc xác lập quyền độc lập, tự do cho dân tộc, Hồ Chí Minh cũng đồng thời trao lại cho nhân dân những quyền cơ bản nhất. Việc quy chụp “Việt Nam không có nhân quyền” chẳng qua chỉ là cách các thế lực thù địch áp đặt hệ giá trị phương Tây để phủ nhận mô hình phát triển của Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định “dân là gốc”, mọi chủ trương, đường lối đều hướng tới việc bảo vệ, chăm lo, nâng cao quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Các văn kiện Đại hội Đảng gần đây đều nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trong đó tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nguyên tắc hiến định. Đảng ta xác định nhân quyền ở Việt Nam không tách rời quyền dân tộc cơ bản, không xa lạ với truyền thống nhân văn của dân tộc, và càng không đồng nghĩa với mô hình áp đặt của bất kỳ quốc gia nào. Đây là sự kế thừa trực tiếp tinh thần của Bản Tuyên ngôn độc lập.
Hiến pháp năm 2013 đã dành Chương II để quy định rõ ràng, toàn diện về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó nhiều quyền mới được bổ sung, mở rộng phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam đã quy định đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, đồng thời bảo đảm cơ chế để thực hiện. Những hành vi lợi dụng “tự do ngôn luận” để chống phá Nhà nước, chia rẽ dân tộc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác… đều bị xử lý theo pháp luật. Việc các thế lực phản động quy kết đó là “kìm kẹp, áp bức” chẳng qua là sự đánh tráo khái niệm.
Luật pháp Việt Nam cũng ngày càng hoàn thiện, từ Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Bình đẳng giới, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật… đến các văn bản chuyên ngành về lao động, việc làm, y tế, giáo dục. Đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền con người trên thực tế.
2.3. Thành tựu nhân quyền - minh chứng thuyết phục phản bác luận điệu xuyên tạc
Giá trị bất diệt của Bản Tuyên ngôn độc lập cho đến nay vẫn tỏa sáng, trở thành nền tảng cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm và phát huy quyền con người. Thành tựu nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong gần 80 năm qua là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu sai trái, khẳng định chân lý: Độc lập dân tộc gắn liền với quyền con người là giá trị thiêng liêng, bất biến của dân tộc Việt Nam.
Trước hết, thành tựu giảm nghèo tiếp tục là điểm sáng. Theo Thông cáo báo chí về Khảo sát mức sống dân cư năm 2024 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ hộ nghèo năm 2024 còn 2,3%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với 2023. Đây là chỉ dấu quan trọng về quyền được hưởng mức sống đầy đủ và an sinh cơ bản của người dân. Ở góc độ nghèo đa chiều, báo cáo tổng hợp cho biết tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc năm 2024 giảm còn 4,06%, trong đó 1,93% hộ nghèo và 2,13% hộ cận nghèo kết quả phản ánh nỗ lực bao phủ nhiều chiều quyền con người như nhà ở, nước sạch, y tế, giáo dục [2].
Về giáo dục, điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2024 cho thấy tỷ lệ đi học chung ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông lần lượt đạt 98,7%, 95,6%, 79,9%; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi tương ứng 98,3%, 95,2%, 79,4% [3]. Với những con số này, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và tiệm cận phổ cập trung học cơ sở. Đây là một nền tảng quan trọng để bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi trẻ em.
Quyền được chăm sóc sức khỏe có bước tiến mạnh. Bộ Y tế cho biết năm 2024, ngành vượt 2/3 chỉ tiêu lớn Quốc hội giao: đạt 14 bác sĩ/1 vạn dân và 34 giường bệnh/1 vạn dân; đồng thời tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,1%, tiến sát mục tiêu bao phủ toàn dân [4]. Điều này vừa mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, vừa giảm gánh nặng chi phí y tế cho hộ gia đình. Bên cạnh đó, quyền tiếp cận nước sạch được cải thiện liên tục: 98,7% hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh năm 2024 [5].
Một khía cạnh quan trọng khác là quyền tham gia đời sống chính trị và bình đẳng giới. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26% [6], thuộc nhóm cao trong khu vực, qua đó tăng tiếng nói của phụ nữ trong hoạch định chính sách, lập pháp và giám sát, từ đó thúc đẩy bình đẳng giới thực chất.
Không chỉ bảo đảm quyền con người trong nước, Việt Nam cũng tích cực thực hiện nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn/gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người, cùng 25 công ước của ILO (trong đó 7/8 công ước cơ bản), cho thấy mức độ hội nhập thể chế và cam kết nội luật hóa quyền con người ở mức cao. Đặc biệt, tháng 7/2025, Việt Nam tham dự đối thoại về Báo cáo quốc gia thực thi Công ước ICCPR tại Geneva, đây là một cơ chế giám sát then chốt về các quyền dân sự, chính trị. Thông qua đó, Việt Nam thể hiện tinh thần đối thoại cởi mở, xây dựng và sẵn sàng tiếp thu khuyến nghị để tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hơn nữa quyền con người trên thực tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, quyền tiếp cận thông tin và một môi trường số an toàn cũng được chú trọng. Thực tế cho thấy, tỷ lệ ký số tài nguyên Internet theo chuẩn RPKI đạt 96,4% [7], xếp đứng đầu ASEAN, cho thấy nỗ lực bảo đảm hạ tầng số an toàn, tin cậy để người dân và tổ chức thụ hưởng quyền tiếp cận thông tin và dịch vụ số công bằng.
3. Kết luận
Những thành tựu trên là minh chứng sinh động rằng nhân quyền ở Việt Nam luôn được bảo đảm, thúc đẩy. Trước những thành tựu rõ ràng đó, mọi luận điệu cho rằng Việt Nam “không có nhân quyền”, “người dân bị kìm kẹp” đều hoàn toàn vô căn cứ. Thực tế, Tám thập niên qua, Bản Tuyên ngôn độc lập đã đặt nền móng cho hệ giá trị nhân quyền của Việt Nam và Đảng, Nhà nước ta luôn kiên định với mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân quyền ở Việt Nam không chỉ được hiến định và pháp luật hóa, mà còn được hiện thực hóa trong từng chính sách cụ thể, gắn liền với sự phát triển bền vững của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. NXB Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội; tr.1.
2, 5. Tổng cục Thống kê (2025, 16 tháng 5). Thông cáo báo chí kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2024. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/05/thong-cao-bao-chi-ket-qua-khao-sat-muc-song-dan-cu-nam-2024/.
3. Tổng cục Thống kê (2025, 06 tháng 01). Thông cáo báo chí Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024/.
4. Bộ Y tế (2024, 21 tháng 12). Ngành Y tế vượt, đạt nhiều chỉ tiêu về chăm sóc sức khoẻ. https://moh.gov.vn/su-kien-y-te-noi-bat/-/asset_publisher/8EeXRtRENhb6/content/nganh-y-te-vuot-at-nhieu-chi-tieu-ve-cham-soc-suc-khoe.
6. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. (2021, 10 tháng 6). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV là 30,26%. https://hoilhpn.org.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/ty-le-nu-%C4%91ai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-la-30-26--38936-1.html.
7. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025, 24 tháng 01). Bộ TT&TT: Hành trình đưa Internet Việt Nam vươn xa. https://mst.gov.vn/bo-tttt-hanh-trinh-dua-internet-viet-nam-vuon-xa-197250124170516912.htm.