PHẢI CHĂNG VĂN HÓA ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ
Đại tá Phạm Hồng Doanh
Chính ủy, Sư đoàn 325, Quân đoàn 12
Email:[email protected]
Tóm tắt: “Phi chính trị hóa văn hóa” là thủ đoạn nằm trong “chiến lược diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc chống phá cách mạng nước ta. Mục tiêu nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Trong bối cảnh mới, trước sự phát triển của cách mạng công nghệ, xu thế toàn cầu hòa và hội nhập quốc tế, mặc dù mục tiêu không thay đổi, nhưng thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi và ngày càng nguy hiểm. Do đó, nhận diện và đấu tranh kiên quyết làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” là vấn đề quan trọng, cấp thiết.
Từ khóa: Văn hóa; Chính trị; Kinh tế; Phi chính trị.
1. Mở đầu
Sau 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên lĩnh vực văn hóa cả về tư duy, tầm nhìn, định hướng phát triển cũng như những thành tựu về văn hóa, con người. Những thành tựu đó đã không chỉ trực tiếp góp phần định vị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mà thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh cho sự phát triển đất nước và phát triển toàn diện con người trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Tuy nhiên, văn hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch luôn xác định đây là “mũi nhọn” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm mục tiêu xâm nhập, phá hoại, tiến tới thực hiện xóa bỏ hệ tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. “Phi chính trị hóa văn hóa” - một thủ đoạn hết sức thâm độc
Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều thủ đoạn. Thủ đoạn được chúng “ưa thích” nhất đó là “phi chính trị hóa văn hóa”. Mục tiêu nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tạo khoảng trống cho sự xâm nhập của các hệ tư tưởng ngoại lai, từng bước làm suy yếu nền chính trị xã hội chủ nghĩa và sự phát triển toàn diện của đất nước. Thực hiện “phi chính trị hóa văn hóa” các thế lực thù địch tập trung:
Một là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, chúng cho rằng văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, tồn tại độc lập với chính trị, không phụ thuộc vào chính trị. Tinh vi hơn, chúng còn ngụy biện văn hóa chỉ là nghệ thuật thuần túy phục vụ nhu cầu hưởng thụ của con người, do đó chỉ có tự do tư tưởng, tự do sáng tác thì văn hóa mới phát triển. Vì vậy, Đảng không cần lãnh đạo văn hóa.
Hai là, phủ nhận vai trò của văn hóa, tách dời văn hóa với lĩnh vực kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh. Trong đó chúng tập trung tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, cho rằng đầu tư cho văn hóa là “phí phạm”, “không sinh lời” và tách rời văn hóa khỏi sự phát triển bền vững đất nước. Từ đó, gieo rắc tâm lý hoài nghi, hình thành tư tưởng xem nhẹ xây dựng văn hóa trong quá trình phát triển đất nước. Đây là quan điểm phiến diện, coi nhẹ nguồn lực tinh thần, nguy hại đến an ninh văn hóa, sự ổn định và phát triển bền vững đất nước.
Ba là, chúng tăng cường xuyên tạc, bóp méo, hạ thấp chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa, phủ nhận những thành tựu về phát triển văn hóa, con người của Đảng và Nhà nước ta. Chúng cho rằng, chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là phiến diện, thiếu thực tế, không hiệu quả, kìm hãm sự phát triển của văn hóa. Chúng cố tình lờ đi những thành tựu mà tập trung thổi phồng các khuyết điểm, hạn chế trong phát triển văn hóa, con người của Đảng và Nhà nước ta.
Để thực hiện âm mưu chống phá trên, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Một mặt, thông qua các kênh truyền thông: RFA, BBC, RFI…; các nền tảng xã hội: Youtube, Tiktok Twitter, Instagram, Facebok…; các fanpage: “Việt Tân”, “Nhật ký yêu nước” “Dân Luận”, “Thoibao.de”… của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, dưới các vỏ bọc “phản biện xã hội”, “hội thảo khoa học”, “yêu nước”, “đóng góp ý kiến” để đưa ra những lập luận phi lý, hết sức sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với văn hóa. Sử dụng công nghệ AI, deepfake, chatbot để tạo các thông tin, các video clip giả nội dung xuyên tạc về thành tựu phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đặc biệt nguy hiểm, thông qua con đường giáo dục, dưới vỏ bọc “đổi mới, canh tân giáo dục”, nhưng thực chất ngầm hình thành khuynh hướng xa dời giá trị lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa trong nội dung giáo dục; hoặc khuyến khích “tư duy phản biện đa chiều”, nhằm thúc đẩy khuynh hướng tiếp cận sai lệch không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn; đồng thời, nồng ghép các nội dung giáo dục lệch chuẩn, thiếu tính định hướng tư tưởng. Hoặc dưới cái mác “giáo dục khai phóng” hay “tư duy tự do”, để từng bước thẩm thấu giá trị phương Tây, từ đó tạo ra một thế hệ “không ký ức”, mơ hồ và vô cảm với lịch sử, xa dời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mất gốc truyền thống, văn hóa. Bên cạnh đó, chúng lôi kéo, mua chuộc một số nhà văn, nhà báo suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện cơ hội, thực dụng, bất mãn với Đảng, với chế độ, thành lập các hội, nhóm, núp bóng “tự do tư tưởng”, “tự do sáng tác”, để viết, tuyên truyền các nội dung phản ánh sai lệch, bôi đen lịch sử, truyền thống và văn hóa dân tộc.
2.2. Văn hóa không đứng ngoài chính trị
Bằng lý luận và thực tiễn, chúng ta khẳng định rằng luận điệu của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, thực hiện “phi chính trị hóa văn hóa” là hoàn toàn bịa đặt, phi lý. Bởi vì:
Về mặt lý luận, văn hóa không thể đứng ngoài chính trị mà trái lại, luôn gắn liền với chính trị, có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, thì văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nảy sinh từ cơ sở kinh tế xã hội. Do đó, văn hóa do cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội quyết định, song nó lại có tác động to lớn thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng; đồng thời có quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo… Đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăngghen khẳng định: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn học và nghệ thuật... đều xây dựng trên cơ sở phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng đều tác động lẫn nhau và tác động đến cơ sở kinh tế”[6, tr.4346]
Kế thừa, phát triển quan điểm của Mác- Ăngghen, V.I.Lênin không chỉ khẳng định vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng vô sản, Ông còn khẳng định nguyên tắc quan trọng nhất của văn hóa là tính Đảng, theo Ông: “Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc” trong một bộ máy dân chủ - xã hội vĩ đại, thống nhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất, của Đảng dân chủ - xã hội”[12, tr.123]
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đặt nền móng cho nền văn hóa mới, Người không những chỉ ra văn hóa không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, mà còn quan hệ với các lĩnh vực khác: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” [7, tr.246] và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”. Người còn chỉ rõ, văn hóa không chỉ quyết định sức mạnh của quốc gia, mà còn định hình, dẫn dắt sự phát triển “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[8, tr.7]; “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Người còn đặc biệt nhắc nhở: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[7, tr.246]
Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa, ngay từ khi chưa giành được độc lập, kế thừa và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong Đề Cương văn hóa Việt Nam năm 1943 trên cơ sở chỉ ra: “Quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị: nền tảng kinh tế của một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ văn hóa của xã hội kia (Hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng trúc thượng tầng kiến trúc)”; Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”. “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, công tác tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” [3, tr.316]. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, cùng với việc chỉ ra 4 nhiệm vụ của văn hóa, Đảng ta khẳng định: “Mặt trận văn hóa Việt Nam phải là một bộ phận khăng khít của mặt trận dân tộc thống nhất giành độc lập. (Văn hóa không thể biệt lập với chính trị)” [9, tr.146]. Đến Hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII, cùng với xác định: “Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”, Đảng ta khẳng định “Xây dựng và phát triển vǎn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng” [1].
Đại hội XIV của Đảng - dấu bước đầu tiên trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, tại Đại hội Đảng ta đã xác định mục tiêu: “… đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [5, tr.84]. Để hiện thức hóa mục tiêu phát triển đất nước, cùng với kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa phải được xây dựng và phát triển, phải trở thành một trong 4 trụ cột chính, bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững. Do đó, Đảng ta xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa” [5, tr.98]; phải xây dựng văn hóa “…thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”[2].
Về mặt thực tiễn: Văn hóa là tổng thể những thành tựu cả về vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình sống và lao động theo các tiêu chuẩn chân - thiện - mỹ, đặc trưng cho tính cách của một cộng đồng xã hội, được gìn giữ, lưu truyền, bồi đắp và phát triển qua các thế hệ kế tiếp, nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Văn hóa mang tính lịch sử xã hội, là sản phẩm do con người sáng tạo ra trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định; cho nên, nó không phải là giá trị vĩnh hằng, trái lại trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì văn hóa cũng có những đặc điểm riêng biệt, đặc thù, phù hợp với đặc điểm của xã hội. Quy luật phát triển của văn hóa là kết quả của quá trình giao thoa và tiếp biến giữa truyền thống và hiện tại, giữa nền văn hóa khác nhau, trong đó các giá trị tích cực, tiến bộ, phù hợp sẽ được giữ lại và tiếp tục phát huy; những giá trị không phù hợp hay lạc hậu sẽ dần tự mất đi.
Đối với mỗi quốc gia, dân tộc văn hóa (ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, truyền thống…) không chỉ là tấm “căn cước” để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác; văn hóa còn trực tiếp định hình nhân cách cá nhân, làm nên tính cách của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, văn hóa không đứng độc lập, mà luôn thấm sâu vào chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, tạo thành nguồn lực nội sinh, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và đối ngoại. Lịch sử nhân loại đã chứng minh, sức mạnh của một quốc gia không chỉ nằm ở sức mạnh về kinh tế hay quân sự quốc phòng, mà nó còn nằm ở chiều sâu của văn hóa.
Nhìn ra thế giới cho thấy nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… văn hóa không chỉ là “sức mạnh mềm”, mà còn đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo thống kê, ở Mỹ, giá trị sản lượng của ngành công nghiệp văn hóa và nghệ thuật hiện nay ước tính đạt gần 919.7 tỷ USD, chiếm 4,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)[10]; Trung Quốc quy mô đạt 12.951,5 tỷ NDT, với tốc độ tăng trưởng đạt 8,2%[11]; Hàn Quốc khoảng 120 tỷ USD/năm và Nhật Bản doanh thu hằng năm khoảng 7% GDP, khoảng 150 tỉ USD. Những số liệu thống kê trên cho thấy, văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ có quan hệ chặt chẽ với chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại; văn hóa còn tạo nên “bản sắc dân tộc” - “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia và đóng góp vào sự phát triển bền vững đất nước.
Đối với Việt Nam, nhận thức tầm quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trên cơ sở Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943), cùng các nghị quyết quan trọng, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và khóa IX và gần đây là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng ta đã luôn quan tâm, chỉ đạo sự nghiệp phát triển văn hóa. Sau 40 năm đổi mới, văn hóa luôn được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh và đối ngoại. Chính vì vậy, diện mạo văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển mới ngày càng sâu sắc và toàn diện, đóng vai trò nền tảng tinh thần vững chắc, là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết cho sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện:
Trong lĩnh vực chính trị, văn hóa không chỉ góp phần định hình đường lối lãnh đạo, nhằm hướng đến sự phát triển hài hòa, bền vững của đất nước; văn hóa còn trực tiếp hình thành văn hóa lãnh đạo, các giá trị chuẩn mực đạo đức người cán bộ, đảng viên; kiến tạo nên bản sắc của tổ chức, tạo môi trường làm việc tích cực, đồng thuận.
Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa không chỉ hình thành các giá trị chuẩn mực đạo đức kinh doanh, mà đã thấm sâu vào các hoạt động kinh tế, góp phần khơi gợi mọi tiềm năng, trí tuệ và tinh thần sáng tạo của con người, trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển kinh tế bền vững; không những vậy, công nghiệp văn hóa đã từng bước khẳng định được vị thế, đóng góp tích cực trong cơ cấu GDP quốc gia, với sự tăng trưởng ước đạt 4,04%, đạt 1,059 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD).
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa đã góp phần giáo dục, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc; xây dựng ý chí quyết tâm và tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch có âm mưu và hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng, xâm phạm bờ cõi, góp phần giữ vững độc lập chủ quyền và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong lĩnh vực ngoại giao, văn hóa đã thấm sâu vào toàn bộ hoạt động ngoại giao, làm nên bản sắc “ngoại giao cây tre”, với đặc trưng luôn có sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và linh hoạt uyển chuyển, biết mình, biết người, biết thời, biết thế, biết nhu, biết cương... Nền ngoại giao đó được vun đắp và tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, không chỉ góp phần quan trọng trong bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế; mà còn trở thành “sức mạnh mềm”, sức mạnh của “văn minh Việt Nam”, góp phần tạo nên một Việt Nam uy tín, trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Như vậy, từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng ta khẳng định rằng, những luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa văn hóa”, phủ nhận vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như sự nghiệp phát triển con người toàn diện của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.
2.3. Để văn hóa xứng tầm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, tiếp tục kiên định sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp phát triển văn hóa.
Đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc, đồng thời có ý sống còn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, cũng như sự phát triển của văn hóa Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp; cạnh tranh trong lĩnh vực văn hóa ngày càng gay gắt; sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ với những thay đổi chuẩn mực giá trị văn hóa; bên cạnh đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa- tư tưởng. Do đó, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, “nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết đất nước” [5, tr.99] phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi phải tiếp tục kiên định sự lãnh đạo của Đảng với văn hóa. Đồng thời, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa theo phương châm chuyển đổi từ tư duy quản lý sang “kiến tạo, thích ứng”, từ tư duy bảo vệ sang tư duy “kiến tạo không gian phát triển”, nhằm tạo ra các khuôn khổ pháp lý, hệ sinh thái, cơ chế, chính sách thuận lợi nhất cho văn hóa phát triển.
Hai là, hoàn thiện thể chế tạo động lực thúc đẩy văn hóa phát triển.
Hoàn thiện thể chế văn hóa được xem là đột phá chiến lược trong chính sách văn hóa, một nền thể chế đồng bộ sẽ là động lực chính thúc đẩy văn hóa phát triển. Thực tiễn cho thấy, thể chế văn hóa ở nước ta hiện nay vẫn còn hạn chế, bất cập nhất định cả về tư duy quản lý cho đến hệ thống pháp luật về văn hóa. Việc hoàn thiện thể chế về văn hóa sẽ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để huy động tối đa nguồn lực xã hội, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Do đó, trước hết cần đổi mới tư duy quản lý theo hướng kiến tạo, phục vụ; trọng tâm là tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và nguồn lực. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, nhất là hệ thống luật liên quan đến di sản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, bảo đảm phù hợp với bối cảnh mới; đột phá vào xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực mới, như công nghiệp văn hóa, văn hóa, nghệ thuật... và các quy định về hoạt động giao lưu, đối ngoại văn hóa với tư duy và tầm nhìn mới. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật; thúc đẩy xã hội hóa và huy động nguồn lực công - tư, ưu tiên phát triển các loại hình văn hóa có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn nhưng khó thu hồi vốn, lợi nhuận thấp.
Ba là, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực trong phát triển văn hóa.
Phát triển toàn diện văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, là trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững chính là minh chứng khoa học đập tan âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa. Vì vậy, cần có cơ chế chính sách huy động và phát huy tối đa mọi nguồn lực, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.
Đối với nguồn lực con người, cùng với thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực văn hóa, xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa giỏi về chuyên môn, giàu nhiệt huyết và trong sáng về tinh thần..., cần có chính sách đột phá trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, thực hiện tốt các chính sách nhằm tôn vinh, trọng dụng tài năng văn hóa, văn nghệ sĩ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Đối với nguồn lực di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể), văn hóa nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa, nguồn lực trực tiếp quyết định sự phát triển của văn hóa. Do đó, cần có cơ chế chính sách phù hợp phát huy hiệu quả các nguồn lực này, nhất là các chính sách trong khai thác, bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đối với nguồn lực tài chính, cần có cơ chế ưu tiên đầu tư công từ ngân sách nhà nước, khuyến khích các quỹ văn hóa phi chính phủ; đồng thời, mở rộng xã hội hóa, huy động nguồn lực của toàn xã hội cho lĩnh vực văn hóa.
Bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột trong nền kinh tế.
Nghị quyết số 80/NQ-TW ngày 07/01/2026 của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam xác định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”[2. tr.2]. Để hiện thực hóa quan điểm trên, đòi hỏi cần tập trung phát triển công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột trong nền kinh tế. Với đặc thù nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, Việt Nam sở hữu một hệ thống di sản văn hóa vô cùng phong phú trải dài từ Bắc vào Nam, đây chính là điều kiện thuận lợi thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển. Do đó, cần có chiến lược nhằm khai thác tối đa lợi thế các vùng miền, trọng tâm đột phá vào các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, mũi nhọn, như: âm nhạc, điện ảnh, du lịch văn hóa, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực… nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, đóng vai trò định hướng, dẫn dắt toàn ngành công nghiệp văn hóa, góp phần giải quyết việc làm, tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao tỉ trọng trong cơ cấu GDP, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó cần có chính sách và phương thức mang tính đột phá trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về văn hóa. Thúc dẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành công nghiệp văn hóa, nhằm xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đa dạng, bền vững. Ưu tiên, đầu tư phát triển các tập đoàn công nghiệp văn hóa ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế với các sản phẩm có chất lượng tốt, mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam, góp phần định vị văn hóa Việt Nam trong bản đồ văn hóa thế giới.
Năm là, không ngừng nâng cao “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong kỷ nguyên mới, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội quốc tế, sự phát triển của khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông đã mở ra những thời cơ mới để văn hóa Việt Nam có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác, đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế; đồng thời, tiếp thu các giá trị tinh hoa nhân loại làm giàu bản sắc dân tộc. Do đó, cần gắn kết chặt chẽ giữa giao lưu văn hóa với ngoại giao văn hóa trong chính sách và hoạt động đối ngoại, nhằm tăng cường sự hiểu biết, tín nhiệm giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Đồng thời, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, đổi mới tư duy từ “giao lưu, gặp gỡ” sang “hợp tác đích thực”, hình thành các cơ chế, chính sách phù hợp tạo, môi trường hợp tác lành mạnh, thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Để đạt được mục tiêu trên, cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước hết cần phát huy sức mạnh ngoại giao văn hóa với 3 trụ cột: đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, nhằm đưa văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Đẩy mạnh phát triển và đưa các sản phẩm văn hóa có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam, trong kết nối và quảng bá hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam. Đồng thời, thúc đẩy nhanh chóng hình thành chiến lược truyền thông quốc gia, trong đó quảng bá văn hóa và con người Việt Nam cần được xem là trung tâm, là trụ cột nhằm lan tỏa giá trị bản sắc văn hóa, con người Việt Nam, góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam tự tin, tự lực, tự cường và một Việt Nam uy tín, trách nhiệm, thân thiện và nhân văn trong cộng đồng quốc tế.
Sáu là, phát huy sức mạnh tổng hợp đấu tranh kiên quyết với âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” của các thế lực thù địch.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trước hết là phát huy vai trò của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao để bảo vệ bản sắc văn hóa và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò chủ động, tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông, lực lượng 35, lực lượng 47 trong phát hiện, đấu tranh kiên quyết với mọi âm mưu, hoạt động chống phá; trong tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân; vai trò của mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái để hình thành “mũi tiến công”, “lá chắn thép” ngay từ cơ sở. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định trong xử lý kiên quyết với các hành vi nói, viết, phát tán các sản phẩm phản văn hóa, xấu độc, xuyên tạc ảnh hưởng tiêu cực đến truyền thống, văn hóa dân tộc. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của các lực lượng thực thi pháp luật trong đấu tranh, xử lý các đối tượng có hành vi chống phá trên lĩnh vực tư tưởng lý luận.
3. Kết luận
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, có thể khẳng định ““Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4, tr.104]. Thành tựu đó có vai trò vô cùng to lớn của văn hóa; văn hóa đã thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh cho công cuộc đổi mới. Hiện nay, chúng ta bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ và thách thức. Trong lĩnh vực văn hóa, đó là thách thức từ sự biến đổi sâu sắc của hệ giá trị, nguy cơ xâm năng văn hóa, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, là trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, một mặt chúng ta phải có những chính sách mang tính đột phá nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ giữa chính trị với văn hóa, giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống văn hóa, giữa tiên tiến với truyền thống, giữa hội nhập với giữ vững bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, cần huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh với mọi luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa văn hóa”, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững bản sắc văn hóa, con người Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng 1930 – 1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 21
7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7.
8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.
9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 8.
10. Theo Báo cáo tóm tắt của Quỹ hỗ trợ nghệ thuật và Phòng phân tích kinh tế, Bộ Thương mại Hoa Kỳ, 2021.
11. Xem: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc: "Năm 2023, doanh thu hoạt động của các ngành văn hóa và các ngành liên quan có quy mô lớn trên toàn quốc tăng 8,2%.". https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202401/t20240129_1946971.html
12. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơ, tập 12.