1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

PHẢI CHĂNG VĂN HÓA ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ

06:20 | 23/04/2026
aA

 

Đại tá Phạm Hồng Doanh

Chính ủy, Sư đoàn 325, Quân đoàn 12

Email:[email protected]

 

Tóm tắt: “Phi chính trị hóa văn hóa” là thủ đoạn nằm trong “chiến lược diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc chống phá cách mạng nước ta. Mục tiêu nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Trong bối cảnh mới, trước sự phát triển của cách mạng công nghệ, xu thế toàn cầu hòa và hội nhập quốc tế, mặc dù mục tiêu không thay đổi, nhưng thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi và ngày càng nguy hiểm. Do đó, nhận diện và đấu tranh kiên quyết làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Từ khóa: Văn hóa; Chính trị; Kinh tế; Phi chính trị.

1. Mở đầu

Sau 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên lĩnh vực văn hóa cả về tư duy, tầm nhìn, định hướng phát triển cũng như những thành tựu về văn hóa, con người. Những thành tựu đó đã không chỉ trực tiếp góp phần định vị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mà thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh cho sự phát triển đất nước và phát triển toàn diện con người trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Tuy nhiên, văn hóa là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, lợi dụng vấn đề này các thế lực thù địch luôn xác định đây là “mũi nhọn” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm mục tiêu xâm nhập, phá hoại, tiến tới thực hiện xóa bỏ hệ tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. “Phi chính trị hóa văn hóa” - một thủ đoạn hết sức thâm độc

Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều thủ đoạn. Thủ đoạn được chúng “ưa thích” nhất đó là “phi chính trị hóa văn hóa”. Mục tiêu nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tạo khoảng trống cho sự xâm nhập của các hệ tư tưởng ngoại lai, từng bước làm suy yếu nền chính trị xã hội chủ nghĩa và sự phát triển toàn diện của đất nước. Thực hiện “phi chính trị hóa văn hóa” các thế lực thù địch tập trung:

Một là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, chúng cho rằng văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, tồn tại độc lập với chính trị, không phụ thuộc vào chính trị. Tinh vi hơn, chúng còn ngụy biện văn hóa chỉ là nghệ thuật thuần túy phục vụ nhu cầu hưởng thụ của con người, do đó chỉ có tự do tư tưởng, tự do sáng tác thì văn hóa mới phát triển. Vì vậy, Đảng không cần lãnh đạo văn hóa.

Hai là, phủ nhận vai trò của văn hóa, tách dời văn hóa với lĩnh vực kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh. Trong đó chúng tập trung tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, cho rằng đầu tư cho văn hóa là “phí phạm”, “không sinh lời” và tách rời văn hóa khỏi sự phát triển bền vững đất nước. Từ đó, gieo rắc tâm lý hoài nghi, hình thành tư tưởng xem nhẹ xây dựng văn hóa trong quá trình phát triển đất nước. Đây là quan điểm phiến diện, coi nhẹ nguồn lực tinh thần, nguy hại đến an ninh văn hóa, sự ổn định và phát triển bền vững đất nước.

Ba là, chúng tăng cường xuyên tạc, bóp méo, hạ thấp chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa, phủ nhận những thành tựu về phát triển văn hóa, con người của Đảng và Nhà nước ta. Chúng cho rằng, chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là phiến diện, thiếu thực tế, không hiệu quả, kìm hãm sự phát triển của văn hóa. Chúng cố tình lờ đi những thành tựu mà tập trung thổi phồng các khuyết điểm, hạn chế trong phát triển văn hóa, con người của Đảng và Nhà nước ta.

Để thực hiện âm mưu chống phá trên, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Một mặt, thông qua các kênh truyền thông: RFA, BBC, RFI…; các nền tảng xã hội: Youtube, Tiktok Twitter, Instagram, Facebok…; các fanpage: “Việt Tân”, “Nhật ký yêu nước” “Dân Luận”, “Thoibao.de”… của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, dưới các vỏ bọc “phản biện xã hội”, “hội thảo khoa học”, “yêu nước”, “đóng góp ý kiến” để đưa ra những lập luận phi lý, hết sức sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với văn hóa. Sử dụng công nghệ AI, deepfake, chatbot để tạo các thông tin, các video clip giả nội dung xuyên tạc về thành tựu phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đặc biệt nguy hiểm, thông qua con đường giáo dục, dưới vỏ bọc “đổi mới, canh tân giáo dục”, nhưng thực chất ngầm hình thành khuynh hướng xa dời giá trị lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa trong nội dung giáo dục; hoặc khuyến khích “tư duy phản biện đa chiều”, nhằm thúc đẩy khuynh hướng tiếp cận sai lệch không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn; đồng thời, nồng ghép các nội dung giáo dục lệch chuẩn, thiếu tính định hướng tư tưởng. Hoặc dưới cái mác “giáo dục khai phóng” hay “tư duy tự do”, để từng bước thẩm thấu giá trị phương Tây, từ đó tạo ra một thế hệ “không ký ức”, mơ hồ và vô cảm với lịch sử, xa dời lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mất gốc truyền thống, văn hóa. Bên cạnh đó, chúng lôi kéo, mua chuộc một số nhà văn, nhà báo suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện cơ hội, thực dụng, bất mãn với Đảng, với chế độ, thành lập các hội, nhóm, núp bóng “tự do tư tưởng”, “tự do sáng tác”, để viết, tuyên truyền các nội dung phản ánh sai lệch, bôi đen lịch sử, truyền thống và văn hóa dân tộc.

2.2. Văn hóa không đứng ngoài chính trị

Bằng lý luận và thực tiễn, chúng ta khẳng định rằng luận điệu của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, thực hiện “phi chính trị hóa văn hóa” là hoàn toàn bịa đặt, phi lý. Bởi vì:

Về mặt lý luận, văn hóa không thể đứng ngoài chính trị mà trái lại, luôn gắn liền với chính trị, có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, thì văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nảy sinh từ cơ sở kinh tế xã hội. Do đó, văn hóa do cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội quyết định, song nó lại có tác động to lớn thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng; đồng thời có quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo… Đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăngghen khẳng định: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn học và nghệ thuật... đều xây dựng trên cơ sở phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng đều tác động lẫn nhau và tác động đến cơ sở kinh tế”[6, tr.4346]

Kế thừa, phát triển quan điểm của Mác- Ăngghen, V.I.Lênin không chỉ khẳng định vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng vô sản, Ông còn khẳng định nguyên tắc quan trọng nhất của văn hóa là tính Đảng, theo Ông: “Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc” trong một bộ máy dân chủ - xã hội vĩ đại, thống nhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển. Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất, của Đảng dân chủ - xã hội”[12, tr.123]

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đặt nền móng cho nền văn hóa mới, Người không những chỉ ra văn hóa không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với chính trị, mà còn quan hệ với các lĩnh vực khác: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” [7, tr.246] và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”. Người còn chỉ rõ, văn hóa không chỉ quyết định sức mạnh của quốc gia, mà còn định hình, dẫn dắt sự phát triển “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[8, tr.7]; “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Người còn đặc biệt nhắc nhở: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[7, tr.246]

Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa, ngay từ khi chưa giành được độc lập, kế thừa và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong Đề Cương văn hóa Việt Nam năm 1943 trên cơ sở chỉ ra: “Quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị: nền tảng kinh tế của một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ văn hóa của xã hội kia (Hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng trúc thượng tầng kiến trúc)”; Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”. “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, công tác tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả” [3, tr.316]. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, cùng với việc chỉ ra 4 nhiệm vụ của văn hóa, Đảng ta khẳng định: “Mặt trận văn hóa Việt Nam phải là một bộ phận khăng khít của mặt trận dân tộc thống nhất giành độc lập. (Văn hóa không thể biệt lập với chính trị)” [9, tr.146]. Đến Hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII, cùng với xác định: “Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”, Đảng ta khẳng định “Xây dựng và phát triển vǎn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng” [1].

Đại hội XIV của Đảng - dấu bước đầu tiên trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, tại Đại hội Đảng ta đã xác định mục tiêu: “… đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [5, tr.84]. Để hiện thức hóa mục tiêu phát triển đất nước, cùng với kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa phải được xây dựng và phát triển, phải trở thành một trong 4 trụ cột chính, bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững. Do đó, Đảng ta xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa” [5, tr.98]; phải xây dựng văn hóa “…thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”[2].

Về mặt thực tiễn: Văn hóa là tổng thể những thành tựu cả về vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình sống và lao động theo các tiêu chuẩn chân - thiện - mỹ, đặc trưng cho tính cách của một cộng đồng xã hội, được gìn giữ, lưu truyền, bồi đắp và phát triển qua các thế hệ kế tiếp, nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Văn hóa mang tính lịch sử xã hội, là sản phẩm do con người sáng tạo ra trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định; cho nên, nó không phải là giá trị vĩnh hằng, trái lại trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì văn hóa cũng có những đặc điểm riêng biệt, đặc thù, phù hợp với đặc điểm của xã hội. Quy luật phát triển của văn hóa là kết quả của quá trình giao thoa và tiếp biến giữa truyền thống và hiện tại, giữa nền văn hóa khác nhau, trong đó các giá trị tích cực, tiến bộ, phù hợp sẽ được giữ lại và tiếp tục phát huy; những giá trị không phù hợp hay lạc hậu sẽ dần tự mất đi.

Đối với mỗi quốc gia, dân tộc văn hóa (ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán, truyền thống…) không chỉ là tấm “căn cước” để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác; văn hóa còn trực tiếp định hình nhân cách cá nhân, làm nên tính cách của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội, văn hóa không đứng độc lập, mà luôn thấm sâu vào chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, tạo thành nguồn lực nội sinh, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và đối ngoại. Lịch sử nhân loại đã chứng minh, sức mạnh của một quốc gia không chỉ nằm ở sức mạnh về kinh tế hay quân sự quốc phòng, mà nó còn nằm ở chiều sâu của văn hóa.

Nhìn ra thế giới cho thấy nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… văn hóa không chỉ là “sức mạnh mềm”, mà còn đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo thống kê, ở Mỹ, giá trị sản lượng của ngành công nghiệp văn hóa và nghệ thuật hiện nay ước tính đạt gần 919.7 tỷ USD, chiếm 4,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)[10]; Trung Quốc quy mô đạt 12.951,5 tỷ NDT, với tốc độ tăng trưởng đạt 8,2%[11]; Hàn Quốc khoảng 120 tỷ USD/năm và Nhật Bản doanh thu hằng năm khoảng 7% GDP, khoảng 150 tỉ USD. Những số liệu thống kê trên cho thấy, văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ có quan hệ chặt chẽ với chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại; văn hóa còn tạo nên “bản sắc dân tộc” - “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia và đóng góp vào sự phát triển bền vững đất nước.

Đối với Việt Nam, nhận thức tầm quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trên cơ sở Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943), cùng các nghị quyết quan trọng, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và khóa IX và gần đây là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng ta đã luôn quan tâm, chỉ đạo sự nghiệp phát triển văn hóa. Sau 40 năm đổi mới, văn hóa luôn được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh và đối ngoại. Chính vì vậy, diện mạo văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển mới ngày càng sâu sắc và toàn diện, đóng vai trò nền tảng tinh thần vững chắc, là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết cho sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện:

Trong lĩnh vực chính trị, văn hóa không chỉ góp phần định hình đường lối lãnh đạo, nhằm hướng đến sự phát triển hài hòa, bền vững của đất nước; văn hóa còn trực tiếp hình thành văn hóa lãnh đạo, các giá trị chuẩn mực đạo đức người cán bộ, đảng viên; kiến tạo nên bản sắc của tổ chức, tạo môi trường làm việc tích cực, đồng thuận.

Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa không chỉ hình thành các giá trị chuẩn mực đạo đức kinh doanh, mà đã thấm sâu vào các hoạt động kinh tế, góp phần khơi gợi mọi tiềm năng, trí tuệ và tinh thần sáng tạo của con người, trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển kinh tế bền vững; không những vậy, công nghiệp văn hóa đã từng bước khẳng định được vị thế, đóng góp tích cực trong cơ cấu GDP quốc gia, với sự tăng trưởng ước đạt 4,04%, đạt 1,059 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD).

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa đã góp phần giáo dục, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc; xây dựng ý chí quyết tâm và tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thù địch có âm mưu và hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng, xâm phạm bờ cõi, góp phần giữ vững độc lập chủ quyền và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong lĩnh vực ngoại giao, văn hóa đã thấm sâu vào toàn bộ hoạt động ngoại giao, làm nên bản sắc “ngoại giao cây tre”, với đặc trưng luôn có sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và linh hoạt uyển chuyển, biết mình, biết người, biết thời, biết thế, biết nhu, biết cương... Nền ngoại giao đó được vun đắp và tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, không chỉ góp phần quan trọng trong bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế; mà còn trở thành “sức mạnh mềm”, sức mạnh của “văn minh Việt Nam”, góp phần tạo nên một Việt Nam uy tín, trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Như vậy, từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng ta khẳng định rằng, những luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa văn hóa”, phủ nhận vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như sự nghiệp phát triển con người toàn diện của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

2.3. Để văn hóa xứng tầm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Một là, tiếp tục kiên định sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp phát triển văn hóa.

Đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc, đồng thời có ý sống còn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, cũng như sự phát triển của văn hóa Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp; cạnh tranh trong lĩnh vực văn hóa ngày càng gay gắt; sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ với những thay đổi chuẩn mực giá trị văn hóa; bên cạnh đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa- tư tưởng. Do đó, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, “nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết đất nước” [5, tr.99] phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi phải tiếp tục kiên định sự lãnh đạo của Đảng với văn hóa. Đồng thời, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa theo phương châm chuyển đổi từ tư duy quản lý sang “kiến tạo, thích ứng”, từ tư duy bảo vệ sang tư duy “kiến tạo không gian phát triển”, nhằm tạo ra các khuôn khổ pháp lý, hệ sinh thái, cơ chế, chính sách thuận lợi nhất cho văn hóa phát triển.

Hai là, hoàn thiện thể chế tạo động lực thúc đẩy văn hóa phát triển.

Hoàn thiện thể chế văn hóa được xem là đột phá chiến lược trong chính sách văn hóa, một nền thể chế đồng bộ sẽ là động lực chính thúc đẩy văn hóa phát triển. Thực tiễn cho thấy, thể chế văn hóa ở nước ta hiện nay vẫn còn hạn chế, bất cập nhất định cả về tư duy quản lý cho đến hệ thống pháp luật về văn hóa. Việc hoàn thiện thể chế về văn hóa sẽ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để huy động tối đa nguồn lực xã hội, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Do đó, trước hết cần đổi mới tư duy quản lý theo hướng kiến tạo, phục vụ; trọng tâm là tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và nguồn lực. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, nhất là hệ thống luật liên quan đến di sản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, bảo đảm phù hợp với bối cảnh mới; đột phá vào xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực mới, như công nghiệp văn hóa, văn hóa, nghệ thuật... và các quy định về hoạt động giao lưu, đối ngoại văn hóa với tư duy và tầm nhìn mới. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật; thúc đẩy xã hội hóa và huy động nguồn lực công - tư, ưu tiên phát triển các loại hình văn hóa có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn nhưng khó thu hồi vốn, lợi nhuận thấp.

Ba là, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực trong phát triển văn hóa.

Phát triển toàn diện văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, là trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững chính là minh chứng khoa học đập tan âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa. Vì vậy, cần có cơ chế chính sách huy động và phát huy tối đa mọi nguồn lực, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

Đối với nguồn lực con người, cùng với thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực văn hóa, xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa giỏi về chuyên môn, giàu nhiệt huyết và trong sáng về tinh thần..., cần có chính sách đột phá trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, thực hiện tốt các chính sách nhằm tôn vinh, trọng dụng tài năng văn hóa, văn nghệ sĩ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Đối với nguồn lực di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể), văn hóa nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa, nguồn lực trực tiếp quyết định sự phát triển của văn hóa. Do đó, cần có cơ chế chính sách phù hợp phát huy hiệu quả các nguồn lực này, nhất là các chính sách trong khai thác, bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đối với nguồn lực tài chính, cần có cơ chế ưu tiên đầu tư công từ ngân sách nhà nước, khuyến khích các quỹ văn hóa phi chính phủ; đồng thời, mở rộng xã hội hóa, huy động nguồn lực của toàn xã hội cho lĩnh vực văn hóa.

Bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột trong nền kinh tế.

Nghị quyết số 80/NQ-TW ngày 07/01/2026 của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam xác định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”[2. tr.2]. Để hiện thực hóa quan điểm trên, đòi hỏi cần tập trung phát triển công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột trong nền kinh tế. Với đặc thù nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, Việt Nam sở hữu một hệ thống di sản văn hóa vô cùng phong phú trải dài từ Bắc vào Nam, đây chính là điều kiện thuận lợi thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển. Do đó, cần có chiến lược nhằm khai thác tối đa lợi thế các vùng miền, trọng tâm đột phá vào các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, mũi nhọn, như: âm nhạc, điện ảnh, du lịch văn hóa, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực… nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, đóng vai trò định hướng, dẫn dắt toàn ngành công nghiệp văn hóa, góp phần giải quyết việc làm, tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao tỉ trọng trong cơ cấu GDP, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội.

Bên cạnh đó cần có chính sách và phương thức mang tính đột phá trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về văn hóa. Thúc dẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành công nghiệp văn hóa, nhằm xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đa dạng, bền vững. Ưu tiên, đầu tư phát triển các tập đoàn công nghiệp văn hóa ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế với các sản phẩm có chất lượng tốt, mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam, góp phần định vị văn hóa Việt Nam trong bản đồ văn hóa thế giới.

Năm là, không ngừng nâng cao “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong kỷ nguyên mới, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội quốc tế, sự phát triển của khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông đã mở ra những thời cơ mới để văn hóa Việt Nam có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác, đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế; đồng thời, tiếp thu các giá trị tinh hoa nhân loại làm giàu bản sắc dân tộc. Do đó, cần gắn kết chặt chẽ giữa giao lưu văn hóa với ngoại giao văn hóa trong chính sách và hoạt động đối ngoại, nhằm tăng cường sự hiểu biết, tín nhiệm giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Đồng thời, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, đổi mới tư duy từ “giao lưu, gặp gỡ” sang “hợp tác đích thực”, hình thành các cơ chế, chính sách phù hợp tạo, môi trường hợp tác lành mạnh, thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao “sức mạnh mềm” của quốc gia.

Để đạt được mục tiêu trên, cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước hết cần phát huy sức mạnh ngoại giao văn hóa với 3 trụ cột: đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, nhằm đưa văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Đẩy mạnh phát triển và đưa các sản phẩm văn hóa có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam, trong kết nối và quảng bá hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam. Đồng thời, thúc đẩy nhanh chóng hình thành chiến lược truyền thông quốc gia, trong đó quảng bá văn hóa và con người Việt Nam cần được xem là trung tâm, là trụ cột nhằm lan tỏa giá trị bản sắc văn hóa, con người Việt Nam, góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam tự tin, tự lực, tự cường và một Việt Nam uy tín, trách nhiệm, thân thiện và nhân văn trong cộng đồng quốc tế.

Sáu là, phát huy sức mạnh tổng hợp đấu tranh kiên quyết với âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” của các thế lực thù địch.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa văn hóa” là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trước hết là phát huy vai trò của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao để bảo vệ bản sắc văn hóa và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò chủ động, tích cực của các cơ quan báo chí, truyền thông, lực lượng 35, lực lượng 47 trong phát hiện, đấu tranh kiên quyết với mọi âm mưu, hoạt động chống phá; trong tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân; vai trò của mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái để hình thành “mũi tiến công”, “lá chắn thép” ngay từ cơ sở. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định trong xử lý kiên quyết với các hành vi nói, viết, phát tán các sản phẩm phản văn hóa, xấu độc, xuyên tạc ảnh hưởng tiêu cực đến truyền thống, văn hóa dân tộc. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của các lực lượng thực thi pháp luật trong đấu tranh, xử lý các đối tượng có hành vi chống phá trên lĩnh vực tư tưởng lý luận.

3. Kết luận

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, có thể khẳng định ““Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4, tr.104]. Thành tựu đó có vai trò vô cùng to lớn của văn hóa; văn hóa đã thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh cho công cuộc đổi mới. Hiện nay, chúng ta bước vào kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ và thách thức. Trong lĩnh vực văn hóa, đó là thách thức từ sự biến đổi sâu sắc của hệ giá trị, nguy cơ xâm năng văn hóa, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, là trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, một mặt chúng ta phải có những chính sách mang tính đột phá nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ giữa chính trị với văn hóa, giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống văn hóa, giữa tiên tiến với truyền thống, giữa hội nhập với giữ vững bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, cần huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh với mọi luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa văn hóa”, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững bản sắc văn hóa, con người Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

2. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng 1930 – 1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.

6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 21

7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7.

8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.

9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 8.

10. Theo Báo cáo tóm tắt của Quỹ hỗ trợ nghệ thuật và Phòng phân tích kinh tế, Bộ Thương mại Hoa Kỳ, 2021.

11. Xem: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc: "Năm 2023, doanh thu hoạt động của các ngành văn hóa và các ngành liên quan có quy mô lớn trên toàn quốc tăng 8,2%.". https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202401/t20240129_1946971.html

12. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơ, tập 12.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).