1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

NỮ GIẢNG VIÊN NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

09:22 | 03/01/2026
aA

 

Nguyễn Thị Hồng Phượng -

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Gmail: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, giáo dục – đào tạo trong Quân đội đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đội ngũ giảng viên, trong đó có nữ giảng viên, giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả chuyển đổi số ở Nhà trường Quân đội. Bài viết phân tích yêu cầu đặt ra đối với nữ giảng viên trong quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, đánh giá thực trạng tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên ở Nhà trường Quân đội hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nữ giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Từ khóa: Nữ giảng viên; chuyển đổi số; giáo dục – đào tạo; Nhà trường Quân đội.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó giáo dục – đào tạo được xác định là một trong những lĩnh vực tiên phong. Đối với Nhà trường Quân đội, chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong tiến trình đó, đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt, trực tiếp triển khai và hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số.

Nữ giảng viên Nhà trường Quân đội, với những đặc điểm riêng về vai trò xã hội, nghề nghiệp và điều kiện công tác, vừa có nhiều tiềm năng, thế mạnh, vừa đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trước yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy nữ giảng viên trong chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội

Chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy, mà là quá trình đổi mới toàn diện từ tư duy quản lý, tổ chức đào tạo đến nội dung, phương pháp và hình thức dạy học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Quá trình này đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ giảng viên, trước hết là sự thích ứng nhanh với môi trường giáo dục số và khả năng làm chủ các phương thức dạy học hiện đại.

Trước hết, chuyển đổi số đòi hỏi sự đổi mới căn bản phương thức tổ chức dạy học trong Nhà trường Quân đội. Mô hình dạy học truyền thống, chủ yếu dựa vào giảng dạy trực tiếp, đang từng bước được thay thế bằng các hình thức dạy học linh hoạt, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, giữa học tập trên lớp với tự học trên môi trường số. Việc triển khai các nền tảng số, hệ thống quản lý học tập, lớp học thông minh không chỉ mở rộng không gian và thời gian học tập, mà còn tạo điều kiện để cá thể hóa quá trình đào tạo, nâng cao tính chủ động và khả năng tự học của học viên.

Cùng với đó, chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy. Nội dung giáo dục – đào tạo cần được số hóa một cách hệ thống, bảo đảm tính khoa học, cập nhật và gắn chặt với thực tiễn nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ quân sự. Phương pháp giảng dạy chuyển từ lối truyền thụ một chiều sang phát huy vai trò trung tâm của người học, tăng cường các phương pháp dạy học tích cực, tương tác, trải nghiệm, qua đó hình thành năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn quân sự.

Một yêu cầu mang tính then chốt của chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội là nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên. Giảng viên không chỉ cần vững vàng về bản lĩnh chính trị, sâu sắc về chuyên môn, mà còn phải có trình độ công nghệ, biết thiết kế và tổ chức bài giảng số, khai thác và xử lý dữ liệu học tập, sử dụng hiệu quả các công cụ dạy học hiện đại. Năng lực số trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số.

Những yêu cầu trên đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội. Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường giáo dục số, nữ giảng viên không chỉ cần nỗ lực khắc phục khó khăn, thách thức đặc thù, mà còn phải không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp và phong cách giảng dạy, từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình trong quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo của Nhà trường Quân đội hiện nay.

2.2. Vai trò của nữ giảng viên trong chuyển đổi số giáo dục – đào tạo

Trong tiến trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội, nữ giảng viên giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là lực lượng trực tiếp tổ chức, triển khai các hoạt động dạy học trên môi trường số, vừa là chủ thể góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Vai trò đó được thể hiện một cách toàn diện, xuyên suốt từ khâu chuẩn bị nội dung, tổ chức dạy học đến đánh giá kết quả học tập của học viên.

Trước hết, nữ giảng viên là lực lượng trực tiếp tham gia hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số trong giảng dạy. Thông qua việc xây dựng bài giảng điện tử, số hóa học liệu, tổ chức lớp học trực tuyến và lớp học kết hợp, nữ giảng viên góp phần làm thay đổi căn bản cách thức truyền tải tri thức trong Nhà trường Quân đội. Việc ứng dụng các công cụ, nền tảng công nghệ số trong kiểm tra, đánh giá không chỉ giúp nâng cao tính khách quan, chính xác mà còn tạo điều kiện theo dõi, điều chỉnh quá trình học tập của học viên một cách kịp thời, khoa học.

Bên cạnh đó, nữ giảng viên đóng vai trò tích cực trong đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Với đặc điểm nổi bật là sự mềm dẻo, linh hoạt trong xử lý tình huống sư phạm, cùng tinh thần trách nhiệm cao đối với nghề nghiệp, nữ giảng viên có điều kiện thuận lợi để vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Trong môi trường giáo dục số, họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, tạo lập không gian học tập thân thiện, khuyến khích học viên chủ động khám phá tri thức, rèn luyện tư duy độc lập và khả năng sáng tạo.

Quan trọng hơn, nữ giảng viên còn là tấm gương tiêu biểu trong quá trình học tập, rèn luyện và thích ứng với những yêu cầu mới của chuyển đổi số. Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực số của nữ giảng viên không chỉ giúp bản thân họ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực trong đội ngũ giảng viên Nhà trường Quân đội. Chính sự nỗ lực không ngừng ấy góp phần hình thành môi trường giáo dục đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra thực chất, hiệu quả và bền vững.

2.3. Thực trạng tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội

Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội cho thấy, đội ngũ nữ giảng viên đã và đang thể hiện sự chủ động, trách nhiệm trong việc tiếp cận và thích ứng với những yêu cầu mới của môi trường giáo dục số. Nhiều nữ giảng viên tích cực tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ công nghệ thông tin, từng bước làm chủ các nền tảng số, phần mềm dạy học và hệ thống quản lý đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ số trong xây dựng bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến, cũng như trong hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình tham gia chuyển đổi số của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Nhận thức về bản chất, mục tiêu và yêu cầu của chuyển đổi số ở một bộ phận nữ giảng viên chưa thật sự đầy đủ, dẫn đến việc ứng dụng công nghệ còn mang tính hình thức, chưa phát huy hết hiệu quả. Trình độ và năng lực số giữa các nữ giảng viên còn có sự chênh lệch, nhất là trong việc thiết kế bài giảng số, khai thác dữ liệu và vận dụng các công cụ dạy học hiện đại. Bên cạnh đó, đặc thù công tác trong môi trường Quân đội cùng với áp lực công việc chuyên môn và trách nhiệm gia đình đã ảnh hưởng không nhỏ đến quỹ thời gian, điều kiện tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực số của nữ giảng viên.

Ngoài những yếu tố chủ quan, một số hạn chế còn bắt nguồn từ điều kiện khách quan của Nhà trường Quân đội. Hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị phục vụ dạy học số ở một số cơ sở đào tạo chưa được đầu tư đồng bộ; việc hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn chuyên môn trong quá trình triển khai chuyển đổi số còn chưa kịp thời. Những yếu tố này đã tác động nhất định đến hiệu quả và tính bền vững của quá trình chuyển đổi số, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của nữ giảng viên trong thời gian tới.

2.4. Giải pháp phát huy vai trò nữ giảng viên trước yêu cầu chuyển đổi số

Để phát huy tốt vai trò của nữ giảng viên Nhà trường Quân đội trong chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Trước hết, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nhận thức đúng là tiền đề quyết định đến thái độ, hành động và hiệu quả tham gia chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo. Khi hiểu rõ bản chất, mục tiêu và tầm quan trọng của chuyển đổi số, nữ giảng viên sẽ chủ động, tích cực hơn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ và tự bồi dưỡng năng lực số, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà trường Quân đội.

Nội dung nâng cao nhận thức cần tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi của chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo Quân đội, bao gồm: ý nghĩa chiến lược của chuyển đổi số đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại; vai trò, trách nhiệm và vị trí của đội ngũ nữ giảng viên trong quá trình đổi mới giáo dục trên nền tảng số; những yêu cầu mới về năng lực, phương pháp và phong cách giảng dạy trong môi trường giáo dục số. Qua đó giúp nữ giảng viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về nhiệm vụ chuyển đổi số gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao.

Về biện pháp thực hiện, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục thông qua các hội nghị, tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề, lồng ghép nội dung chuyển đổi số vào các chương trình bồi dưỡng, tập huấn giảng viên. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng trong Nhà trường trong việc định hướng, động viên và hỗ trợ nữ giảng viên nâng cao nhận thức, hình thành động cơ đúng đắn, tinh thần chủ động, tự giác và sẵn sàng thích ứng với những yêu cầu mới của chuyển đổi số, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội hiện nay.

Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội là yêu cầu then chốt nhằm bảo đảm chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo được triển khai một cách thực chất và hiệu quả. Năng lực số không chỉ giúp nữ giảng viên làm chủ các công cụ công nghệ, mà còn là điều kiện để đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường Quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Nội dung bồi dưỡng năng lực số cần tập trung vào việc trang bị cho nữ giảng viên hệ thống kiến thức và kỹ năng thiết yếu, như: sử dụng thành thạo các nền tảng dạy học số, hệ thống quản lý học tập; thiết kế, xây dựng bài giảng điện tử và học liệu số; khai thác, xử lý dữ liệu phục vụ giảng dạy, kiểm tra, đánh giá; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong môi trường giáo dục số. Việc bồi dưỡng cần gắn chặt với yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn và đặc thù công tác của nữ giảng viên trong Nhà trường Quân đội.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách đối với đội ngũ nữ giảng viên Nhà trường Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi dậy động lực, phát huy tiềm năng và bảo đảm sự tham gia tích cực, bền vững của nữ giảng viên vào quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo. Cơ chế, chính sách phù hợp không chỉ góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác, mà còn tạo môi trường thuận lợi để nữ giảng viên yên tâm cống hiến, sáng tạo và đổi mới.

Nội dung của giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định, chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ nữ giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số. Trong đó, chú trọng việc bố trí, sắp xếp thời gian và phân công nhiệm vụ chuyên môn một cách hợp lý, phù hợp với đặc thù công tác và điều kiện của nữ giảng viên; đồng thời quan tâm bảo đảm sự cân đối giữa yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trách nhiệm gia đình. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích, động viên nữ giảng viên tích cực tham gia chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và hoạt động đổi mới sáng tạo.

Về biện pháp thực hiện, các Nhà trường Quân đội cần rà soát, điều chỉnh và bổ sung các quy định, chính sách theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nữ giảng viên phát huy năng lực trong môi trường giáo dục số. Thực hiện kịp thời các hình thức động viên, khen thưởng đối với những nữ giảng viên có thành tích trong ứng dụng công nghệ, đổi mới phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học; đồng thời bảo đảm sự công bằng, minh bạch trong đánh giá, sử dụng và phát triển đội ngũ. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy nữ giảng viên tham gia tích cực, chủ động và hiệu quả vào quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội.

Về biện pháp thực hiện, cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu theo từng nhóm đối tượng, trình độ và lĩnh vực giảng dạy, bảo đảm tính thiết thực và khả năng vận dụng cao. Đồng thời, khuyến khích nữ giảng viên phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu; xây dựng các diễn đàn, nhóm chuyên môn để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong ứng dụng công nghệ số. Qua đó, từng bước nâng cao năng lực số một cách đồng đều, bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng và môi trường số trong Nhà trường Quân đội có ý nghĩa then chốt trong việc bảo đảm các điều kiện vật chất – kỹ thuật cho quá trình chuyển đổi số giáo dục – đào tạo, đồng thời tạo nền tảng để đội ngũ nữ giảng viên phát huy năng lực, tính chủ động và sáng tạo trong giảng dạy. Hạ tầng và môi trường số hiện đại, đồng bộ là điều kiện cần thiết để các giải pháp chuyển đổi số được triển khai hiệu quả, tránh tình trạng ứng dụng công nghệ mang tính hình thức, thiếu bền vững.

Nội dung của giải pháp này cần tập trung vào việc đầu tư, nâng cấp đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng số và các nền tảng phục vụ dạy học, nghiên cứu khoa học và quản lý đào tạo. Trong đó, chú trọng xây dựng hệ thống quản lý học tập, kho học liệu số, phòng học thông minh và các công cụ hỗ trợ giảng dạy trực tuyến; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong môi trường giáo dục số của Nhà trường Quân đội. Việc hoàn thiện môi trường số cần gắn với yêu cầu thực tiễn đào tạo, phù hợp với đặc thù quân sự và nhiệm vụ của từng Nhà trường.

Về biện pháp thực hiện, các Nhà trường Quân đội cần xây dựng kế hoạch đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các hạng mục thiết yếu phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy và đào tạo trên nền tảng số. Đồng thời, tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng các hệ thống công nghệ, giúp nữ giảng viên tiếp cận, khai thác và sử dụng hiệu quả các nền tảng dạy học số. Qua đó, tạo môi trường thuận lợi để nữ giảng viên phát huy năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp và sáng tạo trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở Nhà trường Quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

3. Kết luận

Chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là yêu cầu chiến lược đối với các Nhà trường Quân đội trong giai đoạn hiện nay. Trong tiến trình này, nữ giảng viên với vai trò đặc thù, vị trí quan trọng và tiềm năng sáng tạo chính là lực lượng nòng cốt, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới giáo dục diễn ra hiệu quả và bền vững. Việc phát huy vai trò của nữ giảng viên không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực quân sự, mà còn khẳng định vị thế, năng lực và sự đóng góp quan trọng của phụ nữ trong Quân đội. Đồng thời, đây là yếu tố then chốt để các Nhà trường Quân đội thực hiện thành công mục tiêu xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số sâu rộng./.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 71‑NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[2] Chính phủ. Quyết định số 749/QĐ‑TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

[3] Nguyễn Văn Cường, Trần Thị Hạnh. Ứng dụng công nghệ số trong đổi mới phương pháp giảng dạy ở Nhà trường Quân đội. Tạp chí Khoa học Giáo dục Quân sự, 2022, số 4, tr. 45–53.

[4] Lê Thị Minh Phương. Năng lực số của giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học Giáo dục, 2021, số 12, tr. 21–29.

 

FEMALE LECTURERS IN MILITARY SCHOOLS FACING THE REQUIREMENTS OF DIGITAL TRANSFORMATION

IN EDUCATION AND TRAINING

Nguyen Thi Hong Phuong

Nguyen Hue University

Email: [email protected]

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution and the widespread process of digital transformation, military education and training face the imperative of comprehensive innovation in content, methodology, and teaching organization. The teaching staff, including female lecturers, play a direct and decisive role in determining the quality and effectiveness of digital transformation in military schools. This paper analyzes the requirements placed on female lecturers in the process of digital transformation in education and training, assesses the current participation of female lecturers in digital transformation at military schools, and proposes several solutions to enhance the role of female lecturers, contributing to improving the quality of education and training and meeting the requirements of building a modern military in the new context.

Keywords: Female lecturers; digital transformation; education and training; military schools.

Ý kiến bạn đọc
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA”  VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).