1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

06:52 | 15/04/2026
aA

 

PGS.TS Trần Đình Tuấn

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hoạt động tư vấn học đường ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tư vấn học đường, làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tư vấn học đường trong các cơ sở giáo dục phổ thông. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: tư vấn học đường, chất lượng giáo dục, học sinh phổ thông, tâm lý học đường.

1. Mở đầu

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội và tác động của quá trình toàn cầu hóa, học sinh phổ thông đang phải đối mặt với nhiều vấn đề tâm lý, xã hội phức tạp như áp lực học tập, định hướng nghề nghiệp, bạo lực học đường, rối nhiễu tâm lý,... Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường hoạt động tư vấn học đường trong nhà trường.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò của công tác tư vấn tâm lý học đường như một bộ phận quan trọng trong hệ thống hỗ trợ học sinh. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế về nhận thức, đội ngũ, cơ chế vận hành và hiệu quả triển khai. Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn học đường là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến tư vấn học đường

2.1. Khái niệm tư vấn học đường

Tư vấn học đường là quá trình hỗ trợ mang tính chuyên môn do các cá nhân hoặc tổ chức có năng lực thực hiện, nhằm giúp học sinh giải quyết các vấn đề về tâm lý, học tập, hành vi và định hướng nghề nghiệp, từ đó phát triển toàn diện về nhân cách. Tư vấn học đường không chỉ đơn thuần là giải quyết khó khăn trước mắt mà còn hướng tới phòng ngừa, phát triển năng lực tự nhận thức và tự điều chỉnh của học sinh.

Hoạt động tư vấn học đường trong các cơ sở giáo dục phổ thông có đặc điểm mang tính giáo dục cao, gắn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Tính phòng ngừa và phát triển, không chỉ xử lý vấn đề mà còn dự báo và ngăn ngừa rủi ro tâm lý. Tính liên ngành, kết hợp kiến thức tâm lý học, giáo dục học, xã hội học. Tính hệ thống, diễn ra thường xuyên, liên tục và có kế hoạch.

Tư vấn học đường giữ vai trò quan trọng trong trong việc hỗ trợ tâm lý học sinh; giúp các em giảm căng thẳng, lo âu, trầm cảm. Nâng cao hiệu quả học tập, giúp học sinh xác định mục tiêu và phương pháp học phù hợp. Định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực và sở thích. Xây dựng môi trường học đường lành mạnh, hạn chế bạo lực học đường và các hành vi lệch chuẩn.

2.2. Khái niệm “hoạt động tư vấn tâm lý học đường”

Hoạt động tư vấn tâm lý học đường và hoạt động tư vấn học đường là hai khái niệm có phạm trù khoa học gần nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau.

Tư vấn tâm lý học đường là một bộ phận chuyên sâu của tư vấn học đường, tập trung vào các vấn đề tâm lý – cảm xúc – hành vi của học sinh; hỗ trợ điều chỉnh, cân bằng và phát triển sức khỏe tinh thần.

Đặc trưng của hoạt dộng tư vấn tâm lý học đường là mang tính chuyên môn tâm lý học rõ rệt. Đòi hỏi người thực hiện có đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, tham vấn. Phương thức hoạt động, thường áp dụng các kỹ thuật như lắng nghe tích cực, trị liệu nhận thức – hành vi, tham vấn cá nhân/nhóm.

Bản chất của hoạt động tư vấn tâm lý học đường là hoạt động hỗ trợ tâm lý chuyên biệt, thiên về can thiệp chiều sâu. Chủ thể hoạt động tư vấn tâm lý học đường là các chuyên gia tâm lý hoặc các giáo viên được đào tạo về nghiệp vụ tư vấn tâm lý học đường cho học sinh.

Tư vấn học đường là hoạt động hỗ trợ mang tính giáo dục được tổ chức trong nhà trường nhằm giúp học sinh giải quyết các vấn đề liên quan đến học tập, tâm lý, hành vi, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp.

Đặc trưng của hoạt động tư vấn học đường là phạm vi rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực phát triển của học sinh. Không chỉ giải quyết vấn đề mà còn phòng ngừa và phát triển năng lực cá nhân. Có thể do nhiều lực lượng tham gia như giáo viên, cán bộ tư vấn, chuyên gia, phụ huynh.

Bản chất của hoạt động tư vấn học đường là một hoạt động giáo dục tích hợp, hướng tới sự phát triển toàn diện của học sinh.

Như vậy, tư vấn tâm lý học đường là một bộ phận cấu thành của tư vấn học đường, nhưng không đồng nhất với toàn bộ hoạt động tư vấn học đường.

Bảng 1: Phân biệt hai khái niệm

Tiêu chí

Tư vấn học đường

Tư vấn tâm lý học đường

Phạm vi

Rộng (học tập, tâm lý, hướng nghiệp, quan hệ…)

Hẹp hơn (tập trung tâm lý – cảm xúc – hành vi)

Tính chất

Giáo dục tổng hợp

Chuyên sâu tâm lý

Chủ thể thực hiện

Giáo viên, cán bộ tư vấn, quản lý

Chuyên gia tâm lý, cán bộ được đào tạo

Mục tiêu

Phát triển toàn diện học sinh

Ổn định và phát triển sức khỏe tâm thần

Mức độ can thiệp

Phòng ngừa + hỗ trợ

Can thiệp sâu, cá nhân hóa


2.3. Phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan

2.3.1. Tham vấn (Counseling)

Tham vấn là quá trình tương tác chuyên nghiệp giữa nhà tham vấn và thân chủ nhằm giúp thân chủ tự nhận thức và giải quyết vấn đề. Tham vấn mang tính cá nhân hóa cao, chú trọng vào quá trình hơn là kết quả.

Tham vấn là phương pháp cốt lõi trong tư vấn tâm lý học đường.

2.3.2. Trị liệu tâm lý (Psychotherapy)

Trị liệu tâm lý là hoạt động can thiệp chuyên sâu nhằm điều trị các rối nhiễu hoặc rối loạn tâm lý. Trị liệu tâm lý thường do nhà trị liệu hoặc bác sĩ tâm thần thực hiện.

Trị liệu mang tính y khoa – lâm sàng. Tư vấn học đường mang tính giáo dục – phòng ngừa.

2.3.3. Hướng nghiệp (Career Guidance)

Hướng nghiệp là hoạt động giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu xã hội. Hướng nghiệp là một nội dung quan trọng của tư vấn học đường, nhưng không bao trùm toàn bộ.

2.3.4. Công tác xã hội học đường (School Social Work)

Công tác xã hội học đường là hoạt động hỗ trợ học sinh về mặt xã hội, kết nối nguồn lực gia đình – nhà trường – cộng đồng. Công tác xã hội chú trọng môi trường và điều kiện sống. Tư vấn học đường chú trọng phát triển cá nhân học sinh.

2.3.5. Giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là quá trình trang bị cho học sinh các kỹ năng như giao tiếp, quản lý cảm xúc, giải quyết vấn đề. Giáo dục kỹ năng sống là nội dung hỗ trợ phòng ngừa trong tư vấn học đường.

Việc phân biệt rõ các khái niệm liên quan đến tư vấn học đường có ý nghĩa quan trọng trong cả nghiên cứu lý luận và tổ chức thực tiễn. Trong đó Tư vấn học đường là khái niệm bao quát, mang tính giáo dục tổng hợp; Tư vấn tâm lý học đường là bộ phận chuyên sâu, tập trung vào sức khỏe tinh thần; Các khái niệm như tham vấn, trị liệu, hướng nghiệp, công tác xã hội học đường… là những thành tố hoặc công cụ bổ trợ.

Nhận thức đúng các khái niệm này sẽ giúp xây dựng mô hình tư vấn học đường hiệu quả, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

3. Chủ thể thực hiện tư vấn học đường

3.1. Chủ thể trực tiếp thực hiện tư vấn học đường

Đây là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp triển khai các hoạt động tư vấn.

1) Cán bộ tư vấn học đường (chuyên trách/bán chuyên trách). Đây là người được đào tạo hoặc bồi dưỡng về tâm lý học, tham vấn học đường. Thực hiện các hoạt động tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm; Hỗ trợ tâm lý, can thiệp khi học sinh gặp khó khăn; Phối hợp với các bên liên quan. Đây là chủ thể chuyên môn trung tâm, quyết định chất lượng tư vấn.

2) Giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi, hiểu rõ học sinh nhất trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm có khả năng phát hiện sớm các vấn đề về tâm lý, hành vi, học tập. Giáo viên chủ nhiệm có vai trò tư vấn ban đầu (tư vấn cấp độ 1) và kết nối học sinh với cán bộ tư vấn chuyên sâu

3) Giáo viên bộ môn. Giáo viên bộ môn thông qua quá trình giảng dạy, phát hiện biểu hiện bất thường của học sinh. Giáo viên bộ môn có vai trò tư vấn trong phạm vi học tập và hành vi lớp học, đồng thời cung cấp thông tin cho hệ thống tư vấn.

4) Cán bộ quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng). Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng không trực tiếp tư vấn thường xuyên nhưng giữ vai trò chỉ đạo. Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng có vai trò xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động tư vấn; Ban hành quy chế, phân công nhân sự; Đảm bảo điều kiện thực hiện.

3.2. Chủ thể phối hợp trong tư vấn học đường

Đây là các lực lượng hỗ trợ, góp phần nâng cao hiệu quả tư vấn.

1) Phụ huynh học sinh. Phụ huynh học sinh là người hiểu rõ hoàn cảnh gia đình và đặc điểm cá nhân của học sinh. Phụ huynh học sinh có vai trò phối hợp cung cấp thông tin, thực hiện các biện pháp hỗ trợ tại gia đình.

2) Học sinh. Học sinh vừa là đối tượng đồng thời là chủ thể tham gia hoạt động tư vấn. Học sinh không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn tham gia tích cực vào quá trình tư vấn. Học sinh có vai trò tự nhận thức, chia sẻ vấn đề, hỗ trợ bạn bè (tư vấn đồng đẳng – peer counseling)

3) Chuyên gia tâm lý, cơ sở tư vấn bên ngoài. Chuyên gia tâm lý, cơ sở tư vấn bên ngoài bao gồm nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung tâm tư vấn. Đây là chủ thể có vai trò can thiệp chuyên sâu trong các trường hợp phức tạp và đào tạo, tập huấn cho đội ngũ chuyên gia trong nhà trường

4) Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên ... có vai trò tổ chức hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống, hỗ trợ phòng ngừa các vấn đề tâm lý.

5) Cộng đồng và các tổ chức xã hội. Bao gồm chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ. Đây là chủ thể có vai trò hỗ trợ nguồn lực, tạo môi trường xã hội tích cực cho học sinh

Có thể khái quát mô hình chủ thể tư vấn học đường theo mô hình hệ thống như sau: Trung tâm là cán bộ tư vấn học đường. Vòng 1: Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn. Vòng 2: Ban giám hiệu, phụ huynh. Vòng 3: Chuyên gia bên ngoài, tổ chức xã hội. Đây là mô hình đa chủ thể – liên kết – phối hợp, trong đó mỗi chủ thể có vai trò khác nhau nhưng cùng hướng tới mục tiêu hỗ trợ học sinh.

Tóm lại, chủ thể của hoạt động tư vấn học đường trong trường phổ thông không chỉ giới hạn ở một cá nhân hay bộ phận mà là một hệ thống các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Trong đó cán bộ tư vấn học đường giữ vai trò trung tâm về chuyên môn; Giáo viên là lực lượng phát hiện và hỗ trợ ban đầu; Gia đình và xã hội là yếu tố phối hợp quan trọng.

Việc xác định rõ các chủ thể và vai trò của từng lực lượng là cơ sở để tổ chức hiệu quả hoạt động tư vấn học đường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

4. Chất lượng hoạt động tư vấn học đường

4.1. Khái niệm chất lượng tư vấn học đường

Chất lượng hoạt động tư vấn học đường được hiểu là mức độ đáp ứng mục tiêu tư vấn thông qua hiệu quả hỗ trợ học sinh giải quyết vấn đề, phát triển năng lực cá nhân và cải thiện môi trường giáo dục.

Chất lượng này được đánh giá thông qua các tiêu chí như: mức độ hài lòng của học sinh, hiệu quả can thiệp, tính chuyên nghiệp của đội ngũ và sự phù hợp của nội dung tư vấn.

4.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng

Một số tiêu chí cơ bản gồm:

Tính phù hợp: Nội dung tư vấn đáp ứng nhu cầu thực tế của học sinh.

Tính hiệu quả: Kết quả thay đổi tích cực về tâm lý và hành vi học sinh.

Tính chuyên nghiệp: Trình độ và kỹ năng của người làm công tác tư vấn.

Tính tiếp cận: Học sinh dễ dàng tiếp cận dịch vụ tư vấn.

Tính bền vững: Hoạt động được duy trì lâu dài và ổn định.

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tư vấn học đường

Đội ngũ tư vấn: Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức nghề.

Cơ chế chính sách: Sự quan tâm, chỉ đạo của nhà trường và cơ quan quản lý.

Cơ sở vật chất: Phòng tư vấn, trang thiết bị hỗ trợ.

Nhận thức của học sinh và phụ huynh: Mức độ tin tưởng và sẵn sàng tham gia.

Môi trường xã hội: Tác động của gia đình, cộng đồng và mạng xã hội.

5. Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn học đường

5.1. Hoàn thiện khung lý luận và cơ chế chính sách

Việc nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn học đường trước hết cần được đặt trên nền tảng lý luận vững chắc và hệ thống chính sách đồng bộ. Trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục làm rõ nội hàm khái niệm tư vấn học đường theo hướng tiếp cận phát triển năng lực và sức khỏe tinh thần học sinh, đồng thời xác định rõ vị trí của hoạt động này trong cấu trúc tổng thể của hệ thống giáo dục phổ thông.

Về phương diện chính sách, cần xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ phận tư vấn học đường; chuẩn năng lực nghề nghiệp đối với cán bộ tư vấn; quy trình tổ chức, triển khai và đánh giá hoạt động tư vấn trong nhà trường.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế bảo đảm nguồn lực cho hoạt động tư vấn học đường, bao gồm cơ chế tài chính ổn định; quy định về biên chế hoặc vị trí việc làm chuyên trách; chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động tư vấn học đường theo hướng định lượng và định tính, gắn với kiểm định chất lượng giáo dục, qua đó tạo cơ sở cho việc giám sát và cải tiến liên tục.

5.2. Phát triển đội ngũ tư vấn học đường chuyên nghiệp

Đội ngũ cán bộ tư vấn học đường là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của hoạt động này. Vì vậy, cần phát triển đội ngũ theo hướng chuyên nghiệp hóa, chuẩn hóa và liên tục bồi dưỡng năng lực.

Trước hết, cần xây dựng chuẩn năng lực đối với cán bộ tư vấn học đường, bao gồm năng lực chuyên môn về tâm lý học, giáo dục học; kỹ năng tham vấn (lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, phản hồi, xử lý tình huống); năng lực đạo đức nghề nghiệp và bảo mật thông tin.

Thứ hai, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ thông qua tích hợp nội dung tư vấn học đường trong chương trình đào tạo giáo viên; tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu, cập nhật phương pháp tư vấn hiện đại; phát triển các chương trình đào tạo sau đại học về tâm lý học đường.

Thứ ba, cần thúc đẩy mô hình đội ngũ đa tầng giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò tư vấn ban đầu; cán bộ tư vấn chuyên trách đảm nhiệm tư vấn chuyên sâu; chuyên gia bên ngoài hỗ trợ các trường hợp đặc biệt.

Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ nghề nghiệp cho cán bộ tư vấn như giám sát chuyên môn (supervision), tư vấn đồng nghiệp và chăm sóc sức khỏe tâm lý cho chính đội ngũ này nhằm đảm bảo tính bền vững nghề nghiệp.

5.3. Đổi mới nội dung và phương thức tư vấn

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, nội dung và phương thức tư vấn học đường cần được đổi mới theo hướng linh hoạt, đa dạng và tiếp cận học sinh một cách hiệu quả hơn.

Về nội dung, cần mở rộng phạm vi tư vấn từ giải quyết vấn đề sang phát triển năng lực, bao gồm giáo dục sức khỏe tâm thần; kỹ năng quản lý cảm xúc và ứng phó với căng thẳng; kỹ năng số và an toàn trên không gian mạng; định hướng nghề nghiệp trong bối cảnh thị trường lao động biến động.

Về phương thức, cần đa dạng hóa hình thức tư vấn, tư vấn trực tiếp (cá nhân, nhóm); tư vấn trực tuyến thông qua các nền tảng số; xây dựng hệ thống tư vấn ẩn danh để tăng khả năng tiếp cận của học sinh.

Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và triển khai hoạt động tư vấn như xây dựng cơ sở dữ liệu học sinh; sử dụng các công cụ đánh giá tâm lý trực tuyến; triển khai các ứng dụng hỗ trợ tư vấn và theo dõi tiến trình hỗ trợ học sinh.

Đổi mới phương thức tư vấn cũng cần gắn với tiếp cận lấy học sinh làm trung tâm, tăng cường sự tham gia chủ động của học sinh thông qua các mô hình như tư vấn đồng đẳng, câu lạc bộ kỹ năng sống.

5.4. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Hiệu quả của hoạt động tư vấn học đường phụ thuộc lớn vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục. Do đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và đa chủ thể.

Trước hết, cần thiết lập kênh thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình học sinh; hướng dẫn phụ huynh kỹ năng hỗ trợ tâm lý cho con em; tổ chức các buổi tư vấn, hội thảo dành cho phụ huynh.

Tiếp theo, cần tăng cường liên kết với các tổ chức và chuyên gia bên ngoài, trung tâm tư vấn tâm lý; cơ sở y tế; tổ chức xã hội, đoàn thể. Sự phối hợp này giúp xử lý hiệu quả các trường hợp phức tạp vượt quá khả năng của nhà trường, đồng thời mở rộng nguồn lực hỗ trợ học sinh.

Ngoài ra, cần phát huy vai trò của các tổ chức trong nhà trường như Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, phòng ngừa rủi ro tâm lý. Việc phối hợp cần được thể chế hóa bằng các quy chế, quy trình cụ thể nhằm đảm bảo tính thống nhất, liên tục và hiệu quả.

5.5. Xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện

Môi trường học đường là yếu tố nền tảng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động tư vấn học đường. Một môi trường an toàn, thân thiện sẽ tạo điều kiện để học sinh cởi mở chia sẻ và tiếp nhận hỗ trợ.

Trước hết, cần xây dựng văn hóa nhà trường tích cực, đề cao các giá trị tôn trọng, chia sẻ và thấu hiểu; không bạo lực, không kỳ thị; khuyến khích sự khác biệt và phát triển cá nhân.

Thứ hai, cần thiết lập các cơ chế phòng ngừa và can thiệp sớm, hệ thống phát hiện sớm các dấu hiệu rối nhiễu tâm lý; quy trình xử lý bạo lực học đường; kênh phản ánh và hỗ trợ khẩn cấp cho học sinh.

Thứ ba, cần đầu tư cơ sở vật chất phục vụ tư vấn học đường, phòng tư vấn riêng biệt, đảm bảo tính riêng tư; trang thiết bị hỗ trợ tư vấn hiện đại; không gian thân thiện, tạo cảm giác an toàn cho học sinh.

Ngoài ra, cần thúc đẩy sự tham gia của học sinh trong việc xây dựng môi trường học đường thông qua các hoạt động tự quản, diễn đàn học sinh, câu lạc bộ.

Các định hướng nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và cần được triển khai đồng bộ. Trong đó, hoàn thiện chính sách là nền tảng, phát triển đội ngũ là then chốt, đổi mới nội dung – phương thức là động lực, phối hợp đa chủ thể là điều kiện và môi trường học đường là bối cảnh bảo đảm. Việc thực hiện hiệu quả các định hướng này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn học đường, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện học sinh trong giai đoạn hiện nay.

6. Kết luận

Hoạt động tư vấn học đường trong các cơ sở giáo dục phổ thông ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh, không chỉ ở khía cạnh học tập mà còn về tâm lý, hành vi và định hướng tương lai. Trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến động và áp lực gia tăng, nhu cầu được hỗ trợ tâm lý, được định hướng và đồng hành của học sinh ngày càng trở nên cấp thiết, đòi hỏi hoạt động tư vấn học đường phải được quan tâm đúng mức và tổ chức một cách khoa học, chuyên nghiệp.

Bài viết đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tư vấn học đường, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, chủ thể tham gia cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động này. Đồng thời, trên cơ sở phân tích đó, bài viết đã đề xuất một số định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tư vấn học đường theo hướng tiếp cận hệ thống và phát triển bền vững, từ hoàn thiện khung lý luận và chính sách, phát triển đội ngũ, đổi mới nội dung và phương thức, đến tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục và xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện.

Có thể khẳng định rằng, nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn học đường không phải là nhiệm vụ riêng của một bộ phận hay cá nhân nào, mà là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống giáo dục và xã hội. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần tạo lập môi trường giáo dục nhân văn, hỗ trợ học sinh phát triển hài hòa về trí tuệ, cảm xúc và nhân cách, qua đó đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017). Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông. Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

3. American School Counselor Association (2019). ASCA National Model: A framework for school counseling programs (4th ed.). Alexandria, VA: Author.

4. Gysbers, Norman C., & Henderson, Patricia (2012). Developing and Managing Your School Guidance and Counseling Program (5th ed.). Alexandria, VA: American Counseling Association.

5. Corey, Gerald (2017). Theory and Practice of Counseling and Psychotherapy (10th ed.). Boston, MA: Cengage Learning.

6. UNICEF (2021). Guidance on mental health and psychosocial support for children in schools. New York: UNICEF.

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).