1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

NGUỒN NHÂN LỰC TRÍ THỨC TRẺ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ CHUYỂN ĐỔI SỐ

08:23 | 26/05/2026
aA

 

 

Nguyễn Thị Hồng Diễm

Trường Cao đẳng Công Thương Tp. Hồ Chí Minh

     Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Chuyển đổi số đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, trí thức trẻ - lực lượng có tri thức, sáng tạo và khả năng thích ứng cao - đóng vai trò then chốt trong quá trình kiến tạo xã hội số. Bài tham luận phân tích thực trạng nhận thức và hành động của trí thức trẻ trước làn sóng chuyển đổi số, làm rõ những cơ hội như việc làm linh hoạt, khởi nghiệp sáng tạo, học tập toàn cầu… đồng thời nhận diện các thách thức như chênh lệch số, thiếu kỹ năng toàn diện, áp lực tâm lý, và nguy cơ lệ thuộc công nghệ.

Dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch và khung năng lực số DigComp, bài viết đề xuất các giải pháp từ phía Nhà nước (chính sách, đào tạo, hạ tầng), nhà trường (đổi mới chương trình, liên kết doanh nghiệp), và bản thân trí thức trẻ (học tập suốt đời, đạo đức số, cộng đồng số). Từ đó, khẳng định rằng trí thức trẻ không chỉ là người thụ hưởng mà phải trở thành lực lượng tiên phong, hành động có trách nhiệm trong quá trình chuyển đổi số, góp phần thúc đẩy nền kinh tế số Việt Nam phát triển bền vững.

Từ khóa: Trí thức trẻ; Chuyển đổi số; Kinh tế số; Nhận thức số; Kỹ năng số; Cơ hội; Thách thức; Học tập suốt đời; Khởi nghiệp sáng tạo; Đạo đức số.

Nhận bài: 20/5/2026; Biên tập: 20/5/2026;  Phản biện: 23/5/2026; Duyệt đăng: 25/5/2026.

1. Giới thiệu chung

Thế giới đang chứng kiến một làn sóng thay đổi mạnh mẽ và toàn diện nhờ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với trọng tâm là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối và tự động hóa. Những tiến bộ vượt bậc về công nghệ đang làm thay đổi phương thức sản xuất, cách vận hành nền kinh tế, mô hình quản trị xã hội và đời sống hàng ngày của con người. Trong xu thế đó, chuyển đổi số trở thành một trong những ưu tiên chiến lược không chỉ của các chính phủ, doanh nghiệp mà còn của mỗi cá nhân và tổ chức xã hội.

Tại Việt Nam, chuyển đổi số đã và đang được đẩy mạnh toàn diện trên các lĩnh vực, từ hành chính công, giáo dục – đào tạo, y tế, đến sản xuất – kinh doanh. Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia số, kinh tế số chiếm tỷ trọng cao trong GDP, xã hội số phát triển toàn diện. Trong bối cảnh đó, việc thích nghi, làm chủ và phát huy vai trò của các lực lượng xã hội, đặc biệt là trí thức trẻ – những người có tiềm năng, sáng tạo và khả năng tiếp thu nhanh công nghệ – đóng vai trò then chốt.

Trí thức trẻ là bộ phận năng động, giàu khát vọng, có trình độ học vấn và tinh thần đổi mới sáng tạo cao. Họ không chỉ là lực lượng thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số mà còn là những chủ thể kiến tạo công nghệ, tham gia xây dựng mô hình kinh doanh mới, cải tiến phương pháp giáo dục, sáng lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, và giải quyết các vấn đề xã hội bằng công nghệ số. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả vai trò này, trí thức trẻ cần có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chuyển đổi số; đồng thời có hành động cụ thể, thiết thực trong việc thích ứng, học tập và cống hiến cho tiến trình phát triển kinh tế số của đất nước.

Trên thực tế, không ít trí thức trẻ còn mơ hồ hoặc tiếp cận chuyển đổi số theo hướng phong trào, thiếu chiều sâu. Bên cạnh đó, họ cũng phải đối diện với nhiều thách thức như chênh lệch về hạ tầng số, thiếu kỹ năng số toàn diện, áp lực cạnh tranh nghề nghiệp và nguy cơ lệ thuộc công nghệ. Trong khi đó, nền kinh tế số lại mở ra hàng loạt cơ hội mới như việc làm linh hoạt, khả năng toàn cầu hóa kỹ năng, khởi nghiệp số, kinh doanh trên nền tảng số, và tham gia cộng đồng tri thức xuyên quốc gia.

Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, bài tham luận này được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:

Làm rõ nhận thức của trí thức trẻ về quá trình chuyển đổi số và nền kinh tế số;

Phân tích hành động, mức độ tham gia và vai trò thực tiễn của trí thức trẻ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay;

Chỉ ra các cơ hội và thách thức mà trí thức trẻ đang đối diện;

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của trí thức trẻ trong nền kinh tế số.

Bài viết được trình bày theo các phần: (1) Cơ sở lý luận về chuyển đổi số và vai trò của trí thức trẻ; (2) Thực trạng nhận thức của trí thức trẻ về chuyển đổi số; (3) Phân tích hành động cụ thể trong thực tiễn; (4) Cơ hội và thách thức; và (5) Đề xuất giải pháp thúc đẩy trí thức trẻ tham gia hiệu quả vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành chủ đề trọng tâm trong nhiều công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế, quản trị công, giáo dục, và nguồn nhân lực. Trên thế giới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2023), Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2022), và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2021) đều có các báo cáo thường niên chỉ ra tác động sâu rộng của chuyển đổi số đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Các báo cáo này khẳng định rằng lực lượng lao động trẻ đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả.

Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều có những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá khả năng thích ứng của giới trẻ với nền kinh tế số. Đáng chú ý, Báo cáo “Digital Generation” (2022) của ADB cho rằng trí thức trẻ là lực lượng có tiềm năng dẫn dắt chuyển đổi số nếu được trang bị kỹ năng đúng đắn.

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trở thành định hướng quốc gia khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Trong đó, trí thức trẻ được xác định là lực lượng nòng cốt trong đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực số. Một số công trình nghiên cứu nổi bật trong nước có thể kể đến như:

- Nguyễn Văn Cường (2022), Vai trò của thanh niên trong nền kinh tế số, Tạp chí Cộng sản.

- Lê Thị Mai Hương (2023), Chuyển đổi số và giáo dục đại học ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Báo cáo quốc gia “Thanh niên và kỹ năng số” của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2023), cho thấy tỷ lệ trí thức trẻ tự đánh giá mình có kỹ năng số cao chỉ ở mức 36%.

Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu hiện tại vẫn còn phân tán, chưa có nhiều công trình phân tích cụ thể về mối quan hệ giữa nhận thức - hành động - cơ hội - thách thức của trí thức trẻ trong bối cảnh chuyển đổi số, đặc biệt là ở cấp độ thực tiễn. Bài tham luận này góp phần làm đầy khoảng trống đó.

2.2. Cơ sở lý luận

2.2.1. Khái niệm chuyển đổi số

Chuyển đổi số (Digital Transformation) là quá trình ứng dụng và tích hợp công nghệ số vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thay đổi phương thức hoạt động, quản lý và tạo ra giá trị mới. Theo Klaus Schwab (2016), chuyển đổi số là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và kết nối số giữ vai trò trung tâm. Chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là đổi mới công nghệ mà còn bao gồm sự thay đổi về tư duy, kỹ năng, mô hình quản trị và văn hóa tổ chức trong nền kinh tế số.

2.2.2. Khái niệm trí thức trẻ

Trí thức trẻ được hiểu là lực lượng thanh niên có trình độ học vấn, chuyên môn và khả năng tiếp cận tri thức hiện đại, bao gồm sinh viên, học viên sau đại học, nhà nghiên cứu trẻ, kỹ sư, doanh nhân và lao động trong lĩnh vực công nghệ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí thức trẻ là lực lượng có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới, đóng vai trò quan trọng trong đổi mới sáng tạo và lan tỏa tri thức số trong xã hội.

2.2.3. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

Bài viết vận dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch của Icek Ajzen (1991) để phân tích mối quan hệ giữa nhận thức và hành động của trí thức trẻ. Theo lý thuyết này, hành vi cá nhân chịu tác động bởi ba yếu tố: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi cảm nhận. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dù nhiều trí thức trẻ nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ số nhưng hành động thực tế còn hạn chế do thiếu kỹ năng, thiếu môi trường hỗ trợ hoặc chưa có động lực đủ mạnh.

2.2.4. Mô hình năng lực số

Ủy ban châu Âu (European Commission, 2018) đã đề xuất mô hình DigComp 2.1 nhằm đánh giá năng lực số của cá nhân thông qua 5 nhóm năng lực chính gồm: khai thác thông tin dữ liệu, giao tiếp số, tạo nội dung số, an toàn số và giải quyết vấn đề trong môi trường số. Mô hình này là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số của trí thức trẻ Việt Nam hiện nay.

2.2.5. Khung phân tích SWOT

Khung phân tích SWOT giúp nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của trí thức trẻ trong nền kinh tế số. Trong đó, điểm mạnh nổi bật là khả năng tiếp cận công nghệ nhanh và tư duy sáng tạo; điểm yếu là thiếu kinh nghiệm và kỹ năng số chưa đồng đều. Bên cạnh đó, nền kinh tế số mở ra nhiều cơ hội về việc làm, học tập và khởi nghiệp công nghệ, song cũng đặt ra không ít thách thức như cạnh tranh lao động, nguy cơ thất nghiệp công nghệ và rủi ro an ninh mạng.

3. Nhận thức và hành động của trí thức trẻ trong thực tiễn chuyển đổi số

3.1. Nhận thức của trí thức trẻ về chuyển đổi số

3.1.1. Nhận thức tích cực và tinh thần chủ động

Trong những năm gần đây, nhận thức của trí thức trẻ về chuyển đổi số đã có những chuyển biến tích cực rõ rệt. Theo khảo sát năm 2023 do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện trên 5.000 thanh niên ở độ tuổi từ 18–35, có tới 87% người trẻ cho rằng chuyển đổi số là “cơ hội lớn để phát triển bản thân và quốc gia”. Nhiều trí thức trẻ đã chủ động học hỏi công nghệ, ứng dụng phần mềm số trong công việc, học tập và khởi nghiệp.

Ngoài ra, mạng xã hội, nền tảng học trực tuyến, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, và các công cụ hỗ trợ kỹ năng số như ChatGPT, Canva, Notion… ngày càng được trí thức trẻ sử dụng thành thạo và linh hoạt trong các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và truyền thông.

3.1.2. Sự khác biệt trong nhận thức giữa các nhóm đối tượng

Tuy nhiên, mức độ nhận thức không đồng đều giữa các nhóm trí thức trẻ, phụ thuộc vào ngành học, khu vực địa lý và mức độ tiếp cận công nghệ. Nhóm trí thức trẻ tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng…) có xu hướng tiếp cận và sử dụng công nghệ số tích cực hơn so với các nhóm ở vùng nông thôn hoặc miền núi.

 

Tiêu chí

Đô thị lớn

Nông thôn

Miền núi

 

Tỷ lệ sử dụng nền tảng học tập trực tuyến thường xuyên

78%

42%

28%

 

Tỷ lệ biết sử dụng công cụ AI (ChatGPT, Canva...)

66%

35%

18%

 

Tỷ lệ tham gia dự án công nghệ/kỹ thuật số

52%

23%

12%

 

Tỷ lệ đánh giá “hiểu rõ khái niệm chuyển đổi số”

71%

39%

25%

 

Nguồn: Khảo sát online do nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM thực hiện năm 2024 trên 1.200 sinh viên và trí thức trẻ từ 18–30 tuổi tại 15 tỉnh, thành.

 

Ngoài ra, sinh viên khối kỹ thuật – công nghệ thường có khả năng tiếp cận chuyển đổi số cao hơn so với sinh viên khối khoa học xã hội – nhân văn, vốn ít có điều kiện được đào tạo bài bản về công nghệ số. Đây là thách thức cho việc đảm bảo công bằng số trong giáo dục đại học và phát triển nguồn nhân lực số toàn diện.

3.1.3. Một số lệch lạc trong nhận thức

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, vẫn tồn tại hiện tượng nhận thức lệch lạc như:

Ngộ nhận chuyển đổi số chỉ là áp dụng phần mềm hoặc công cụ công nghệ mà không thay đổi tư duy vận hành.

Đánh giá thấp những yếu tố phi công nghệ như quản trị tri thức, văn hóa số, đạo đức số.

Thái độ thụ động hoặc phòng ngừa quá mức với những thay đổi công nghệ, do tâm lý lo ngại bị thay thế bởi máy móc hoặc trí tuệ nhân tạo.

Tình trạng này phản ánh sự thiếu hụt trong việc trang bị nền tảng lý luận, kỹ năng phân tích và hiểu biết sâu sắc về bối cảnh chuyển đổi số ở nhiều trí thức trẻ.

3.2. Hành động cụ thể của trí thức trẻ trong chuyển đổi số

3.2.1. Tham gia đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp số

Trong bối cảnh chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, trí thức trẻ Việt Nam đang khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ. Theo Báo cáo Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam 2023 của NATEC và BSSC, hiện có hơn 1.500 startup do người dưới 35 tuổi sáng lập trong các lĩnh vực như fintech, edtech, healthtech và thương mại điện tử. Các chương trình như Techfest, Startup Wheel hay Hack4Growth đã thu hút đông đảo trí thức trẻ tham gia, tạo môi trường kết nối ý tưởng sáng tạo với doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nhiều startup tiêu biểu như TopCV, Monkey Junior và Base.vn đã chứng minh năng lực sáng tạo, khả năng vận hành doanh nghiệp công nghệ và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Điều này cho thấy tinh thần hành động mạnh mẽ của trí thức trẻ trong nền kinh tế số.

3.2.2. Ứng dụng công nghệ trong học tập, nghiên cứu và làm việc

Trí thức trẻ hiện nay ngày càng chủ động ứng dụng công nghệ số vào học tập, nghiên cứu và công việc chuyên môn. Các nền tảng học trực tuyến như Coursera, Udemy, edX cùng các phần mềm phân tích dữ liệu như SPSS, R, Python được sử dụng rộng rãi nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và năng lực nghiên cứu.

Đặc biệt, sau đại dịch COVID-19, việc sử dụng Zoom, Google Meet, LMS, Canva hay ChatGPT đã trở nên phổ biến trong học tập và làm việc. Trong nghiên cứu khoa học, các công cụ như Google Scholar, ResearchGate, Mendeley và Zotero cũng giúp giới trẻ tiếp cận tri thức toàn cầu hiệu quả hơn. Qua đó cho thấy trí thức trẻ đang từng bước thích nghi và làm chủ môi trường số hóa.

3.2.3. Tham gia cộng đồng và lan tỏa chuyển đổi số

Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ cho bản thân, nhiều trí thức trẻ còn tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng nhằm lan tỏa chuyển đổi số trong xã hội. Chương trình “Tri thức trẻ vì giáo dục” do Trung ương Đoàn và Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đã khuyến khích giới trẻ phát triển phần mềm và nội dung số phục vụ giáo dục vùng sâu, vùng xa.

Ngoài ra, nhiều hoạt động “Chuyển đổi số cộng đồng” tại Quảng Trị, Đắk Lắk, Cần Thơ với sự tham gia của sinh viên công nghệ thông tin đã hỗ trợ người dân tiếp cận thanh toán số, ứng dụng y tế và giáo dục trực tuyến. Các câu lạc bộ công nghệ và truyền thông số tại trường đại học cũng góp phần đào tạo kỹ năng số cho sinh viên và cộng đồng. Điều đó cho thấy trí thức trẻ không chỉ là người tiếp nhận công nghệ mà còn là lực lượng lan tỏa giá trị chuyển đổi số trong xã hội hiện nay.

3.3. Một số hạn chế và nguyên nhân

3.3.1. Thiếu năng lực số toàn diện

Dù năng động và sáng tạo, nhiều trí thức trẻ vẫn thiếu kỹ năng số nền tảng như quản lý dữ liệu, an toàn thông tin cá nhân, tư duy lập trình, hoặc khả năng sử dụng công nghệ một cách hệ thống và chiến lược. Tỷ lệ người trẻ sử dụng mạng xã hội thành thạo nhưng lại thiếu kiến thức về bảo mật, kỹ năng phản biện trong môi trường số vẫn còn khá cao.

3.3.2. Thiếu định hướng chiến lược và tư duy phản biện

Một bộ phận trí thức trẻ hành động theo xu hướng, phong trào, chưa có định hướng chiến lược rõ ràng về nghề nghiệp trong nền kinh tế số. Tư duy phân tích, phản biện và xây dựng lộ trình phát triển năng lực số cá nhân còn hạn chế.

3.3.3. Thiếu sự đồng hành từ nhà trường và doanh nghiệp

Chương trình đào tạo đại học, đặc biệt ở các ngành khoa học xã hội - nhân văn, còn chậm tích hợp kỹ năng số. Mối liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp trong đào tạo kỹ năng thực tế về công nghệ vẫn chưa bền chặt, dẫn đến khoảng cách giữa kiến thức hàn lâm và yêu cầu thị trường.

4. Cơ hội và thách thức của trí thức trẻ trong nền kinh tế số

4.1. Những cơ hội nổi bật

4.1.1. Không gian phát triển nghề nghiệp linh hoạt, phi biên giới

Nền kinh tế số đã tạo ra một môi trường làm việc hoàn toàn mới, không bị giới hạn bởi không gian địa lý và thời gian vật lý. Trí thức trẻ có thể tham gia các mô hình làm việc từ xa (remote work), làm việc tự do (freelance), làm việc qua nền tảng (platform economy), hoặc tham gia các nhóm cộng tác số toàn cầu (digital team).

Ví dụ, sinh viên công nghệ tại Việt Nam có thể làm freelancer thiết kế UI/UX cho công ty ở Mỹ, giảng viên trẻ có thể giảng dạy qua nền tảng trực tuyến cho người học tại châu Âu, hoặc kỹ sư phần mềm có thể tham gia vào dự án mã nguồn mở với đội ngũ từ nhiều quốc gia. Điều này mở ra không chỉ cơ hội nghề nghiệp, mà còn mở rộng tư duy toàn cầu, khả năng đa văn hóa và kinh nghiệm thực tiễn đa dạng.

4.1.2. Cơ hội khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo

Chuyển đổi số cho phép cá nhân hóa quy trình sản xuất và cung cấp dịch vụ, từ đó mở ra cánh cửa khởi nghiệp với chi phí khởi đầu thấp. Với một laptop và đường truyền Internet ổn định, một trí thức trẻ hoàn toàn có thể khởi sự kinh doanh số từ bất kỳ đâu – từ viết nội dung, thiết kế đồ họa, lập trình ứng dụng, đến kinh doanh thương mại điện tử, đào tạo trực tuyến, hay sản xuất nội dung số.

Nhiều startup trẻ tại Việt Nam đã thành công từ môi trường này: Elsa Speak (ứng dụng học phát âm tiếng Anh), TopCV (nền tảng tuyển dụng), Vuihoc.vn (nền tảng giáo dục), MindX (vườn ươm khởi nghiệp công nghệ). Đây là minh chứng cho khả năng bứt phá của người trẻ nếu biết tận dụng không gian số một cách hiệu quả.

4.1.3. Học tập và phát triển bản thân không giới hạn

Trong nền kinh tế số, kiến thức được số hóa, lưu trữ, chia sẻ và cập nhật liên tục trên toàn cầu. Các nền tảng học tập trực tuyến như Coursera, edX, FutureLearn, Udemy… cung cấp hàng ngàn khóa học chất lượng cao, nhiều khóa học miễn phí từ các trường đại học danh tiếng.

Trí thức trẻ có thể tự học về lập trình, thiết kế, khoa học dữ liệu, quản trị số… để nâng cao kỹ năng. Việc truy cập kho tri thức mở toàn cầu giúp người trẻ rút ngắn khoảng cách tri thức với thế giới, đồng thời hình thành tinh thần học tập suốt đời – một yếu tố quan trọng trong xã hội tri thức.

4.1.4. Vai trò kiến tạo xã hội số

Không chỉ là người học, người khởi nghiệp hay người lao động, trí thức trẻ còn có thể trở thành người kiến tạo những giá trị mới trong xã hội số. Họ có thể sử dụng công nghệ để xây dựng mô hình giáo dục cộng đồng, nền tảng y tế số, nông nghiệp thông minh, hoặc các ứng dụng phục vụ người yếu thế, vùng sâu vùng xa. Những sáng kiến như bản đồ thiện nguyện số, trợ lý học tập AI miễn phí, hay chatbot tư vấn sức khỏe tâm lý… đã xuất phát từ những nhóm bạn trẻ.

4.2. Những thách thức lớn đang đặt ra

4.2.1. Khoảng cách số và bất bình đẳng tiếp cận

Theo UNDP (2022), Việt Nam vẫn nằm trong nhóm quốc gia có mức “chênh lệch số” cao giữa thành thị và nông thôn, giữa người học các ngành khác nhau, và giữa các nhóm có điều kiện kinh tế – xã hội khác biệt.

Nhiều trí thức trẻ ở vùng sâu vùng xa hoặc từ các nhóm yếu thế chưa được tiếp cận đầy đủ với hạ tầng số, thiết bị số hoặc tài nguyên tri thức. Đây là rào cản vô hình khiến họ bị tụt lại phía sau trong tiến trình số hóa, làm gia tăng bất bình đẳng cơ hội trong nền kinh tế số.

4.2.2. Thiếu hụt kỹ năng số toàn diện

Phần lớn trí thức trẻ hiện nay chỉ được trang bị kỹ năng số ở mức cơ bản – như sử dụng Microsoft Office, tìm kiếm Google, hoặc dùng mạng xã hội. Các kỹ năng thiết yếu trong nền kinh tế số như: quản lý dữ liệu, tư duy thuật toán, bảo mật thông tin, phân tích dữ liệu, kỹ năng truyền thông số, và làm việc trong môi trường số… lại chưa được đào tạo bài bản hoặc tiếp cận có hệ thống.

Theo báo cáo ASEAN Digital Skills 2023, chỉ khoảng 22% sinh viên đại học tại Việt Nam tự đánh giá mình có kỹ năng số ở mức “tốt” hoặc “rất tốt” khi ứng tuyển vào doanh nghiệp công nghệ. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa nhu cầu thị trường và năng lực thực tế.

4.2.3. Áp lực tâm lý và hội chứng “kiệt sức số” (digital burnout)

Thế giới số mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng dễ gây ra các vấn đề tâm lý cho giới trẻ. Việc tiếp xúc quá lâu với màn hình, thường xuyên bị “bội thực thông tin”, áp lực thể hiện bản thân trên mạng xã hội, và thiếu cân bằng giữa đời sống thực và đời sống ảo… có thể dẫn đến lo âu, trầm cảm, và hội chứng “kiệt sức kỹ thuật số”.

Một nghiên cứu của Microsoft (2021) chỉ ra rằng 54% người trẻ làm việc trong môi trường số cảm thấy mệt mỏi kéo dài vì phải “luôn luôn kết nối”. Nếu không có chiến lược quản trị bản thân hợp lý, trí thức trẻ rất dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, hiệu suất kém, thậm chí từ bỏ môi trường số.

4.2.4. Nguy cơ lệ thuộc và đánh mất năng lực phản biện

Việc sử dụng công nghệ quá mức, đặc biệt là các công cụ hỗ trợ như AI, chatbot, công cụ viết tự động… nếu không đi kèm với tư duy phản biện và khả năng tự học, có thể dẫn đến lệ thuộc, mất khả năng tư duy độc lập. Thực trạng “chép – dán số”, “học để thi chứ không học để hiểu” đang diễn ra ở một bộ phận người trẻ, làm suy giảm chất lượng tri thức và khả năng sáng tạo.

Bên cạnh đó, việc thiếu hiểu biết về an ninh mạng, bản quyền, đạo đức số cũng khiến nhiều trí thức trẻ vô tình vi phạm pháp luật hoặc chuẩn mực đạo đức trong không gian mạng.

4.3. Nhận định tổng quát

Trí thức trẻ Việt Nam đang đứng trước một “ngã ba thời đại”: hoặc chủ động nắm bắt chuyển đổi số để phát triển bản thân, khẳng định vai trò xã hội, hoặc bị bỏ lại phía sau bởi chính tốc độ thay đổi của công nghệ. Cơ hội là rất lớn nhưng không tự động chuyển hóa thành lợi ích nếu thiếu nhận thức đúng, hành động cụ thể và năng lực phù hợp.

Do đó, cần có sự đồng hành từ nhiều phía – nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và chính bản thân trí thức trẻ – để hỗ trợ, định hướng và phát triển nguồn nhân lực số có chất lượng, có đạo đức, và có trách nhiệm xã hội trong bối cảnh nền kinh tế số đang định hình trật tự mới của thế giới.

5. Kiến nghị và giải pháp phát huy vai trò của trí thức trẻ trong nền kinh tế số

5.1. Giải pháp từ phía Nhà nước

51.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển nguồn nhân lực số

Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu trong “Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số” và “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực số đến năm 2030”, trong đó đặt trí thức trẻ là trọng tâm phát triển.

Xây dựng cơ chế ưu tiên đầu tư cho các dự án, sáng kiến của thanh niên trong lĩnh vực chuyển đổi số.

Hỗ trợ pháp lý cho khởi nghiệp sáng tạo của người trẻ, nhất là trong các ngành nghề mới chưa có quy định đầy đủ.

Mở rộng các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, tài trợ học bổng và tài nguyên mở (open data, open access) để nâng cao khả năng tiếp cận tri thức số cho trí thức trẻ.

5.1.2. Tăng cường giáo dục kỹ năng số trong phổ thông và đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đẩy mạnh việc tích hợp kỹ năng số vào chương trình giáo dục từ phổ thông đến đại học. Không chỉ giới hạn ở kỹ năng tin học cơ bản, chương trình nên bao gồm:

Tư duy số (digital mindset), tư duy phản biện và đạo đức số.

Kỹ năng phân tích dữ liệu, quản lý tri thức, bảo mật và an toàn thông tin.

Tư duy đổi mới sáng tạo, học tập suốt đời trong môi trường số.

Ngoài ra, cần có chính sách đầu tư thiết bị, hạ tầng và internet tốc độ cao cho các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa - nơi vẫn còn nhiều trí thức trẻ gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ.

5.1.3. Tổ chức phong trào và diễn đàn số cho thanh niên

Chính phủ, đặc biệt là các tổ chức thanh niên như Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, nên tổ chức các diễn đàn công nghệ - thanh niên, hackathon, cuộc thi đổi mới sáng tạo, chương trình tập huấn kỹ năng số quy mô quốc gia nhằm:

Phát hiện, bồi dưỡng và kết nối nhân tài trẻ trong lĩnh vực số.

Thúc đẩy tinh thần học hỏi, khởi nghiệp và kiến tạo trong thế hệ mới.

Hình thành mạng lưới trí thức trẻ số hóa – là hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số địa phương.

5.2. Giải pháp từ phía nhà trường và cơ sở giáo dục

5.2.1. Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng số hóa và liên ngành

Các trường đại học, cao đẳng cần chủ động đổi mới chương trình đào tạo để bắt kịp nhu cầu nhân lực của nền kinh tế số:

Mỗi ngành học cần tích hợp các học phần công nghệ phù hợp như phân tích dữ liệu, công nghệ thông tin ứng dụng, kỹ năng truyền thông số.

Đẩy mạnh các ngành học mới như khoa học dữ liệu, kỹ thuật phần mềm, công nghệ giáo dục, kinh tế số, quản trị đổi mới sáng tạo…

Mô hình đào tạo liên ngành, linh hoạt và cập nhật nhanh với thực tiễn số sẽ giúp sinh viên không chỉ có kiến thức hàn lâm mà còn sẵn sàng thích ứng với môi trường việc làm hiện đại.

5.2.2. Gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - địa phương

Việc liên kết chặt giữa nhà trường và doanh nghiệp là yếu tố then chốt để chuyển giao kiến thức số vào thực tiễn. Các trường cần:

Ký kết hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, làm đề án, tiếp cận thực tế.

Mời chuyên gia số về giảng dạy, tổ chức seminar, hội thảo công nghệ theo định kỳ.

Phát triển trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay trong khuôn viên trường học.

Ngoài ra, mô hình “Đại học địa phương gắn với chuyển đổi số địa phương” cần được khuyến khích, giúp sinh viên tham gia vào các dự án số hóa nông nghiệp, du lịch, giáo dục cộng đồng.

5.3. Giải pháp từ phía bản thân trí thức trẻ

5.3.1. Chủ động nâng cao năng lực số và học tập suốt đời

Trong thời đại số, năng lực số là điều kiện sống còn để phát triển bản thân và hội nhập. Trí thức trẻ cần:

Tự học thường xuyên thông qua các khóa học mở (MOOCs), tài nguyên số, diễn đàn chuyên môn quốc tế.

Cập nhật kỹ năng số theo chuẩn quốc tế như DigComp (EU), DQ Framework (Global), ICDL…

Luyện tập kỹ năng học nhanh – học linh hoạt – học có chọn lọc trong biển thông tin kỹ thuật số.

Ngoài kiến thức kỹ thuật, trí thức trẻ cần phát triển các “năng lực mềm số” như kỹ năng giao tiếp trong môi trường ảo, kỹ năng làm việc nhóm từ xa, tư duy logic và sáng tạo.

5.3.2. Rèn luyện đạo đức số và trách nhiệm xã hội

Trong nền kinh tế số, trí thức trẻ không chỉ là người khai thác công nghệ mà còn cần trở thành người sử dụng công nghệ một cách có đạo đức và có trách nhiệm. Cần:

Tuân thủ nguyên tắc bản quyền, trung thực học thuật, không sao chép tri thức máy móc.

Giữ gìn danh tính số, bảo vệ thông tin cá nhân và tôn trọng quyền riêng tư của người khác.

Tham gia các hoạt động số mang giá trị cộng đồng: giáo dục, y tế, hỗ trợ người yếu thế, phát triển bền vững…

Một trí thức trẻ hiện đại không chỉ “biết” mà còn “biết dùng đúng”, “biết dùng vì người khác” trong thế giới số.

5.3.3. Tham gia chủ động vào các cộng đồng số

Trí thức trẻ nên tích cực tham gia các cộng đồng công nghệ, mạng lưới khởi nghiệp, diễn đàn học thuật và các nhóm chuyên môn trên nền tảng số. Đây là nơi để:

Kết nối, học hỏi, và cập nhật xu thế toàn cầu.

Thực hiện các dự án hợp tác liên ngành, xuyên quốc gia.

Tìm kiếm mentor, cố vấn hoặc đồng đội để cùng phát triển ý tưởng.

Sự tham gia chủ động sẽ giúp người trẻ không bị cô lập giữa đại dương thông tin mà ngược lại - trở thành người định hướng và kiến tạo dòng chảy tri thức.

Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành chiến lược phát triển trọng tâm của quốc gia, trí thức trẻ đang giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế số tại Việt Nam. Với khả năng sáng tạo, tư duy đổi mới và năng lực thích ứng nhanh với công nghệ, lực lượng trí thức trẻ không chỉ là đối tượng tiếp cận tri thức số mà còn là chủ thể tạo ra các giá trị mới cho xã hội. Họ góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình kinh doanh hiện đại, ứng dụng công nghệ trong học tập, nghiên cứu và lao động, đồng thời lan tỏa tinh thần chuyển đổi số trong cộng đồng.

Qua phân tích cho thấy, phần lớn trí thức trẻ hiện nay đã có nhận thức tích cực về vai trò của chuyển đổi số và chủ động tham gia các hoạt động học tập công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, nghiên cứu khoa học và chia sẻ tri thức trên nền tảng số. Nhiều bạn trẻ đã tận dụng hiệu quả các công cụ công nghệ để nâng cao năng lực chuyên môn và mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong môi trường toàn cầu hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, trí thức trẻ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như khoảng cách số, thiếu kỹ năng số toàn diện, áp lực cạnh tranh và nguy cơ lệ thuộc công nghệ.

Từ thực tiễn đó, cần có các giải pháp đồng bộ nhằm phát huy vai trò của trí thức trẻ trong nền kinh tế số. Nhà nước cần xây dựng hệ sinh thái học tập số và chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo; các cơ sở giáo dục cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp công nghệ và kỹ năng số; đồng thời bản thân mỗi trí thức trẻ phải chủ động học tập suốt đời, nâng cao đạo đức số và trách nhiệm xã hội. Chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp mà còn là cơ hội để trí thức trẻ khẳng định vai trò tiên phong trong công cuộc phát triển đất nước theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.

[2]. Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF. (2023). The Future of Jobs Report 2023. Geneva, Switzerland. https://www.weforum.org

[3]. OECD. (2021). Skills for a Digital World. OECD Publishing. https://www.oecd.org

[4]. European Commission. (2018). DigComp 2.1: The Digital Competence Framework for Citizens. https://joint-research-centre.ec.europa.eu

[6]. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. (2023). Báo cáo quốc gia: Thanh niên và kỹ năng số năm 2023. Hà Nội.

[7]. Lê Thị Mai Hương. (2023). Chuyển đổi số và giáo dục đại học ở Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[8]. Nguyễn Văn Cường. (2022). Vai trò của thanh niên trong nền kinh tế số. Tạp chí Cộng sản, số 981, tr. 24–28.

[9]. UNDP Việt Nam. (2022). Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2022 – Chuyển đổi số vì phát triển bền vững và bao trùm. https://www.vn.undp.org

[10]. World Bank. (2022). Digital Vietnam: Leveraging Digital Technologies for Inclusive and Sustainable Growth. https://www.worldbank.org

[11]. Microsoft. (2021). Work Trend Index: The Next Great Disruption Is Hybrid Work—Are We Ready? https://www.microsoft.com/en-us/worklab

[12]. Báo cáo Khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam – NATEC & BSSC. (2023). Vietnam Innovation and Startup Report 2023.

[13]. ADB. (2022). Digital Generation Report: Youth and the Future of Work in Asia-Pacific. Asian Development Bank.

 

 

Young Intellectual Human Resources in the Digital Era: Opportunities and Challenges of Digital Transformation

 

Nguyen Thi Hong Diem

Ho Chi Minh City College of Industry and Trade

Email: [email protected]

Abstract: The digital transformation is profoundly reshaping all aspects of life, especially the economy. In this context, young intellectuals—equipped with knowledge, creativity, and adaptability—play a crucial role in shaping the digital society. This paper analyzes the perceptions and actions of young intellectuals in response to the digital wave, highlighting opportunities such as flexible employment, digital entrepreneurship, and global learning access. It also identifies key challenges including the digital divide, lack of comprehensive digital skills, psychological pressure, and overreliance on technology.

Grounded in the Theory of Planned Behavior and the DigComp digital competence framework, the paper proposes multi-dimensional solutions from the perspectives of the State (policy, training, infrastructure), educational institutions (curriculum reform, enterprise linkage), and the youth themselves (lifelong learning, digital ethics, digital communities). It affirms that young intellectuals must not merely be recipients of digital benefits but become pioneering actors who act responsibly in the digital transformation process. Their active engagement will be essential to building an inclusive and sustainable digital economy in Vietnam.

Keywords: Young intellectuals; Digital transformation; Digital economy; Digital awareness; Digital skills; Opportunities; Challenges; Lifelong learning; Digital entrepreneurship; Digital ethics.

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).