1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

NÂNG CAO Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG TRƯỚC THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

08:58 | 02/06/2026
aA

 

Nguyễn Hải Đăng

Học viên, Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Gmail: [email protected].vn


 

Tóm tắt

Sự lãnh đạo của Đảng, sự vững bền của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phụ thuộc một cách quyết định vào niềm tin và sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Nhận thức rõ điều đó, các thế lực thù địch, phản động đã không từ một thủ đoạn nào nhằm làm cho nhân dân ta suy giảm và mất niềm tin với Đảng, với chế độ. Trong đó, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng đang được kẻ thù ráo riết thực hiện. Đây là một thủ đoạn rất khó nhận biết, khó nắm bắt nhưng hệ quả của nó lại cực kỳ nguy hiểm. Bài viết này sẽ phân tích bản chất, biểu hiện của thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị, đồng thời đề xuất các giải pháp để đấu tranh có hiệu quả với thủ đoạn này.

Từ khóa: Ý thức chính trị, “Diễn biến hòa bình”, thế lực thù địch.

Nhận bài: 25/5/2026; Biên tập: 25/5/2026; Phản biện: 27/5/2026; Duyệt đăng: 29/5/2026.

1. Mở đầu

Đối với mọi chế độ xã hội, ý thức chính trị của quần chúng luôn đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự ổn định xã hội và sự tồn vong của chế độ. Ý thức chính trị của quần chúng là tổng thể nhận thức, tình cảm, niềm tin của quần chúng về địa vị, vai trò lịch sử, nhiệm vụ chiến lược, sách lược của giai cấp, đảng phái xã hội; về tổ chức hoạt động của nhà nước và quan hệ giữa các nhà nước, các dân tộc. Mọi giai cấp, đảng phái muốn nắm giữ vai trò thống trị xã hội đều phải làm cho tư tưởng, đường lối, quan điểm chính trị của giai cấp, đảng phái mình thấm sâu vào ý thức chính trị của quần chúng, làm cho quần chúng tin tưởng, đồng thuận và hành động theo. Ngược lại, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào cũng sẽ mất đi vai trò của mình nếu như đánh mất đi niềm tin và sự ủng hộ của đông đảo nhân dân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội, hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến”[1].

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Tính chất tinh vi, thâm độc và nguy hiểm của thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng mà các thế lực thù địch đang nhằm vào nước ta hiện nay

Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, suy đến cùng, là cuộc chiến giành lấy niềm tin và sự ủng hộ từ quần chúng nhân dân. Ở nước ta hiện nay, điều này đang được biểu hiện rất rõ nét. Trong khi nhiệm vụ của Đảng và cả hệ thống chính trị là phải không ngừng củng cố, nâng cao nhận thức, tình cảm, niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, phát triển sâu rộng ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa trong xã hội, thì với các thế lực thù địch, con đường nhất quyết của chúng là tìm cách phá vỡ đi niềm in ấy, khiến cho ý thức chính trị của quần chúng nhân dân rối loạn, từng bước quay lưng với Đảng, với chế độ. Âm mưu ấy đã và đang được chúng cụ thể hóa bằng rất nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau, bao gồm cả những tác động trực tiếp và gián tiếp, ngấm ngầm và công khai, “cứng” và “mềm”.

Hiểu một cách chung nhất, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng là sự tấn công một cách có chủ đích của các thế lực thù địch thông qua các cách thức, biện  pháp kín đáo, ngấm ngầm, gián tiếp nhằm làm suy giảm nhận thức, phai nhạt tình cảm, biến đổi niềm tin chính trị của nhân dân, khiến cho nhân dân ta từng bước rơi vào trạng thái thờ ơ, vô cảm chính trị, suy giảm và mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Nói cách khác, đây là thủ đoạn làm tan rã niềm tin của nhân dân bằng con đường phi cưỡng bức, dùng yếu tố phi chính trị để từng bước chi phối tư tưởng chính trị; không tạo ra sự đối đầu trực tiếp, không kích động bạo lực hay biểu hiện rõ ràng ngay lập tức, mà lặng lẽ len lỏi vào tư duy, làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân đối với các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước. Chính vì vậy, đặc trưng nổi bật của thủ đoạn này là rất khó nắm bắt, khó nhận biết; âm mưu thực sự luôn bị che giấu bởi rất nhiều vỏ bọc khác nhau, tưởng như vô hại nhưng lại vô cùng độc hại. Nó làm cho chính đối tượng chịu tác động cũng không biết mình đang bị tác động; nó làm tê liệt ý thức cảnh giác trước khi hiện thực hóa mục tiêu trọng tâm, từ đó khiến cho đối tượng chịu tác động không nhận ra được sự chuyển hóa, biến đổi tư tưởng của chính bản thân mình. Đây là một thủ đoạn thâm hiểm, phức tạp, nên thường được các thế lực thù địch tiến hành trên một kế hoạch bài bản, nhất quán, rất từ từ, chậm rãi, trong cả một quá trình. Đổi lại, kết quả của nó là sự phá hoại vào tận gốc rễ nền tảng ý thức chính trị của nhân dân. Một khi ý thức chính trị của quần chúng đã bị “mềm hóa”, tức là nhân dân đã rơi vào trạng thái thờ ơ, vô cảm chính trị, không còn quan tâm đến Đảng, Nhà nước, đến chế độ xã hội, thì đó đã là một trạng thái rất khó đảo ngược.

Ở nước ta hiện nay, thủ đoạn làm “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng đang được các thế lực thù địch thực hiện thông qua những hình thức chủ yếu sau đây:

Một là, cổ súy lối sống tránh xa chính trị, không cần chính trị. Đây là biểu hiện cơ bản, phổ biến và rất nguy hiểm, bởi nó tấn công trực tiếp vào nhận thức và quan niệm của quần chúng về vai trò của chính trị trong đời sống. Bằng phương thức chung của thủ đoạn “mềm hóa”, các thế lực thù địch không trực tiếp kêu gọi nhân dân “tránh xa chính trị”, mà chúng thường thông qua các luồng truyền dẫn thông tin khác nhau để tạo ra sự đối lập giữa chính trị với đời sống, khiến cho người dân dần có cảm giác chính trị là những công việc “to lớn”, “đại sự”, là công việc của nhà nước, của một nhóm nhỏ các nhà lãnh đạo, còn nhân dân chỉ cần lo toan đời sống cá nhân. Chúng phát tán những “triết lý” kiểu như “cuộc sống là hữu hạn, vô thường, sẽ thật là hoài phí nếu không biết hưởng thụ”, từ đó khiến cho người dân, nhất là giới trẻ không còn hứng thú với chính trị, coi đó là việc nặng nề, nhàm chán. Lâu dần, sự xa rời chính trị sẽ tạo thành một kiểu lối sống thờ ơ, vô cảm chính trị trong các tầng lớp nhân dân.

Hai là, gieo rắc tư tưởng sợ chính trị, ngại chính trị. Nếu như phương thức thứ nhất nhằm vào việc làm cho quần chúng không quan tâm đến chính trị, thì phương thức này này tập trung vào việc tạo ra tâm lý e dè, sợ hãi khi nhắc đến các vấn đề chính trị - xã hội. Lợi dụng và xuyên tạc những vụ án xét xử các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá chính quyền nhân dân (mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”), các thế lực thù địch ra sức truyền bá những quan điểm cho rằng ở Việt Nam “không có dân chủ”, “mọi thứ đều bị kiểm soát”, gieo rắc tâm lý cho rằng “chính trị là nguy hiểm, không nên dính dáng”, “nói về chính trị có thể bị trừng phạt”. Cùng với đó, chúng tìm cách suy diễn, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, đặc biệt là những chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền phát ngôn của nhân dân như Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Báo chí năm 2016, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, Luật An ninh mạng 2018..., khiến cho một bộ phận người dân thiếu hiểu biết nảy sinh tâm lý e sợ, hoang mang, ngại bày tỏ chính kiến, từ đó hình thành một xã hội “tự kiểm duyệt”, không dám đấu tranh với cái sai, cái xấu. Khi sợ hãi trở thành tâm lý phổ biến, xã hội sẽ rơi vào trạng thái trì trệ về nhận thức, thiếu vắng những tiếng nói bảo vệ chính nghĩa, tạo điều kiện cho những tư tưởng thù địch có cơ hội lan rộng mà không gặp phải sự phản kháng cần thiết.

Ba là, gieo rắc tâm lý bất lực chính trị. Đây là thủ đoạn mang tính chất phá hoại niềm tin từ bên trong, làm cho quần chúng dần chấp nhận thái độ buông xuôi trước các vấn đề chính trị - xã hội. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng “chính trị là chuyện riêng của quan chức, tiếng nói của dân đen không có ý nghĩa gì”, rằng “mọi thứ đã an bài”, “bầu cử chỉ là hình thức”, “dân chủ chỉ là thủ đoạn”... từ đó làm suy yếu động lực tham gia chính trị của người dân. Chúng lợi dụng những bất cập, khó khăn trong quá trình phát triển đất nước để khuếch đại sự thất vọng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bế tắc, khiến quần chúng mất đi niềm tin vào khả năng cải thiện và phát triển của chế độ. Khi tâm lý bất lực chính trị lan rộng, xã hội sẽ trở nên thụ động, nhân dân không còn muốn đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, không còn tin vào khả năng kiến tạo và phát triển của đất nước. Đây chính là bước đệm nguy hiểm dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội lực của chế độ từ bên trong.

Bốn là, gieo rắc tâm lý tìm kiếm sự mới mẻ chính trị. Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, không một con người bình thường nào có thể trở nên vô cảm với chính trị theo nghĩa là hoàn toàn thờ ơ, hoàn toàn không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội. Sự thờ ơ, vô cảm chính trị thực chất là một thái độ chính trị, một dạng phản ứng chính trị được lựa chọn có chủ đích của những người đang gặp khủng hoảng về niềm tin chính trị. Đây là lúc người ta dễ tìm đến những luồng tư tưởng chính trị trái chiều nhất. Chính vì vậy, sau khi gieo vào quần chúng tâm lý bất lực, mất động lực, mất niềm tin với chế độ chính trị hiện tại của đất nước, bước tiếp theo mà các thế lực thù địch sẽ thực hiện là kích thích sự tò mò đối với những “giải pháp thay thế” được chúng khéo léo gợi ý, đề xuất. Thông qua các phương tiện truyền thông, chúng vẽ nên một bức tranh hào nhoáng về các thể chế chính trị phương Tây, khẳng định rằng chỉ có đa nguyên, đa đảng mới mang lại dân chủ, tự do thực sự. Chúng cố tình so sánh phiến diện, tô hồng những mô hình chính trị ngoại lai trong khi bóp méo, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam, làm cho một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, nảy sinh tâm lý hoài nghi, muốn “đổi mới” bằng cách thử nghiệm những mô hình xa lạ. Đây là một thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó không chỉ làm xói mòn niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà còn tạo ra những nguy cơ bất ổn về tư tưởng, mở đường cho các hoạt động chống phá mang tính chất lật đổ. Bất cứ khi nào chúng ta mất cảnh giác trước kẻ thù, quên đi việc nhận diện những âm mưu phá hoại đang ẩn giấu, thì khi đó, kẻ thù đã tiến thêm được một bước trên con đường phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Lời dạy của V.I.Lênin vẫn chưa bao giờ cũ: “chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác,... thì vẫn là kẻ ngốc nghếch, bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”[2]!

2.2. Đấu tranh làm thất bại thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng của các thế lực thù địch - nhiệm vụ cấp thiết trong tình hình hiện nay

Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang bước vào một giai đoạn mới đặc biệt quan trọng, với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, cùng với những vấn đề nội tại của nền kinh tế và sự chống phá của các thế lực thù địch, việc giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị, khơi dậy mọi tiềm năng, thế mạnh, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của Đảng ta và cả hệ thống chính trị, mà còn rất cần sự đồng lòng, quyết tâm, trách nhiệm của toàn thể nhân dân. Như V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia vào việc quản lý nhà nước. Đó là một nhiệm vụ rất mực khó khăn. Nhưng một thiểu số người, tức là đảng, không thể thực hiện chủ nghĩa xã hội được. Chỉ có hàng chục triệu người, khi đã học được cách tự mình  thiết lập chủ nghĩa xã hội, thì mới có thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội”[3]. Trong bối cảnh, yêu cầu và điều kiện mới của đất nước, để ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng, cần tập trung thực hiện tốt những nội dung, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với vận mệnh của đất nước, dân tộc, với sự tồn vong của chế độ. Đây là giải pháp rất quan trọng, giữ vai trò quyết định. Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng là con đường, phương thức chủ yếu để xác lập, truyền bá và phát triển hệ tư tưởng của Đảng; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; đồng thời, là vũ khí sắc bén tấn công lại sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. V.I.Lênin từng nói: “phải làm cho các cơ quan quyền lực trong thực tế là cơ quan quản lý phục vụ những người lao động biến thành cơ quan quản lý do những người lao động”[4]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng”[5].

Hiện nay, trước những yêu cầu mới của cách mạng và thách thức ngày càng lớn của cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân cần phải được tiếp tục tăng cường. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác này là tuyên truyền, giáo dục, quán triệt, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; xây dựng sự đồng thuận, thống nhất cao về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quá trình nâng cao nhận thức phải gắn liền với bồi đắp tình cảm, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nên sự kết nối vững chắc “ý Đảng với lòng Dân”; phải giúp cho nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò trung tâm của mình trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ.

Hai là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là phương tiện để bảo vệ và hiện thực hóa các quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Do đó, pháp luật, cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng “vì dân”, phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể tham gia thực chất vào các quá trình ra quyết định - từ việc xây dựng chủ trương, chính sách, đến thực thi và giám sát việc thực hiện. Phải thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ các nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vào hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, cần gắn việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách với quá trình tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Để có dân chủ thực chất thì bên cạnh việc phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện theo các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cũng phải đáp ứng, phù hợp với nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật”[6].

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp cơ sở để phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Cấp cơ sở là nơi tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên với nhân dân, là tuyến đầu trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chính tại đây, quyền dân chủ của người dân có điều kiện thể hiện rõ nhất và cũng dễ bị xâm phạm, vô hiệu hóa nhất nếu bộ máy yếu kém, vận hành kém hiệu quả. Do đó, đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở phải đặt trọng tâm vào việc nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, bởi sự lãnh đạo đúng đắn, sát thực tiễn và gắn với nhu cầu của nhân dân chính là nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Bộ máy hành chính chỉ thực sự “vì dân” khi không chỉ “gần dân” về không gian địa lý, mà còn “gần dân” về cách thức vận hành - nghĩa là thấu hiểu, lắng nghe, giải quyết kịp thời và thỏa đáng những nguyện vọng chính đáng của người dân. Việc xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền cơ sở phải được xem là khâu đột phá, bao gồm cả việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đổi mới quy trình làm việc, áp dụng công nghệ trong quản lý, tăng cường công khai, minh bạch và thiết lập cơ chế để người dân có thể tham gia, giám sát một cách thực chất. Chỉ khi cấp xã đủ năng lực và trách nhiệm, thì mọi phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mới có thể chuyển từ khẩu hiệu thành hành động cụ thể. Đây là cách thức rất cụ thể, song cũng rất căn cơ để thực sự nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, đập tan thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng của kẻ thù.

Bốn là, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ nhân dân, tạo niềm tin và sự hài lòng của người dân đối với nhà nước và chính quyền các cấp. Thực tế cho thấy, sự thờ ơ, vô cảm chính trị của một bộ phận người dân có nguyên nhân từ những trải nghiệm chính trị tiêu cực trong quá trình tiếp xúc, làm việc với những cán bộ thoái hóa, biến chất, tiêu cực. Chính vì vậy, đây là giải pháp rất quan trọng nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, chống lại các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chống phá của kẻ thù. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Sự phát huy tính tiền phong, gương mẫu, đức hi sinh vì sự nghiệp chung của cán bộ đảng viên có ý nghĩa quan trọng trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội”[7]. Để đáp ứng yêu cầu đó, trước hết phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức - không chỉ dừng ở việc có bằng cấp, chứng chỉ, mà là khả năng thực sự giải quyết được những vấn đề phức tạp, đa chiều nảy sinh từ thực tiễn, nhất là ở cấp cơ sở. Người cán bộ không thể chỉ “đúng quy trình” mà phải “hiểu việc”, “thuộc dân”, “sát đời sống”. Đồng thời, cần chấn chỉnh đạo đức công vụ, đấu tranh với tình trạng vô cảm, thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu, “hành là chính” trong bộ máy hành chính. Một bộ máy mà ở đó người dân phải xin xỏ để được phục vụ, phải “biết điều” mới được việc, thì không thể là bộ máy dân chủ, càng không thể là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Một nguyên tắc căn bản phải được xác lập là: lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy và cán bộ. Điều này đòi hỏi phải thay đổi tư duy quản lý - từ “mệnh lệnh hành chính” sang “phục vụ và đối thoại”; từ áp đặt từ trên xuống sang lắng nghe từ dưới lên.

3. Kết luận

Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng là thủ đoạn thâm hiểm và đầy tinh vi mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng, bào mòn lòng tin và triệt tiêu sức đề kháng của nhân dân ta. Đấu tranh với thủ đoạn này không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và từng công dân yêu nước. Cảnh giác, kiên định, chủ động nhận diện và phản bác, đồng thời không ngừng nâng cao dân trí, bồi đắp lòng tin, củng cố bản lĩnh chính trị - đó chính là “lá chắn mềm” nhưng vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn./.

Tài liệu tham khảo

[1]. C.Mác và Ph. Ăngghen(1846), “Hệ tư tưởng Đức’’, C.Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG Sự thật, H.1995, tr.68.

[2]. V.I Lênin: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.57.

[3]. V.I Lênin, toàn tập, t36, Nxb Tiến bộ, M, 1976, tr 68

[4]. V.I Lênin, toàn tập, t14, Nxb Tiến bộ, M, 1977, tr 205.

[5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 415.

[6]. Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, với tựa đề “Phát huy tính Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng ngày 20/10/2024).

[7]. Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, với tựa đề “Phát huy tính Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng ngày 20/10/2024).

 

RAISING THE POLITICAL AWARENESS OF THE MASSES AGAINST THE INSIDIOUS TACTICS OF HOSTILE FORCES IN VIETNAM TODAY

 

Nguyen Hai Dang

Student, System 5, Political Academy, Ministry of National Defence

Email: [email protected]

 

Abstract: The leadership of the Communist Party and the stability of the socialist regime in Vietnam depend decisively on the trust and support of the people. Recognizing this fact, hostile and reactionary forces have employed various tactics aimed at undermining public confidence in the Party and the socialist system. Among these, the tactic of “softening” or eroding the political consciousness of the masses is being aggressively implemented. This tactic is particularly difficult to identify and detect, yet its consequences can be extremely dangerous. This article analyzes the nature and manifestations of the tactic of “softening” political consciousness, while also proposing solutions to effectively combat and counter this scheme.

Keywords: Political consciousness, “Peaceful Evolution”, hostile forces.

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).