1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SỐ: TỪ YÊU CẦU THỰC TIỄN ĐẾN CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

09:01 | 16/04/2026
aA

 

 

Trần Đức Khánh Hùng

Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giảng viên trẻ đóng vai trò mắt xích quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số giáo dục. Để khắc phục hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, các cơ sở giáo dục cần chủ động triển khai kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm theo hướng số hóa. Việc trang bị tư duy ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản trị lớp học trên không gian mạng cho giảng viên trẻ không chỉ là giải pháp cấp bách trước mắt, mà còn là bước đi chiến lược để nâng cao vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong kỷ nguyên số.

Từ khoá: Giảng viên trẻ; năng lực sư phạm; chuyển đổi số.

Nhận bài: 14/4/2026; Biên tập: 15/4/2026; Duyệt đăng: 16/4/2026.

     1.  Đặt vấn đề

Năng lực sư phạm (NLSP) được xác định là cấu phần cốt lõi của năng lực nghề nghiệp, kết tinh từ sự am tường kiến thức chuyên môn, tác phong chuẩn mực và khả năng xử lý linh hoạt các tình huống nghiệp vụ. Đây là nhân tố quyết định hiệu quả của hoạt động sư phạm, trực tiếp ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa sứ mệnh giáo dục tại các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, NLSP không mang tính tự thân mà là kết quả của quá trình đào tạo bài bản, tích lũy thực tiễn và tự vận động rèn luyện. Trong bối cảnh hiện nay, việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ, cần tập trung vào sự giao thoa giữa chuyên môn sâu và năng lực ứng dụng công nghệ số, coi đây là yêu cầu vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ chiến lược cấp thiết.

    2. Thực trạng công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ hiện nay

Trong những năm qua, Đảng ủy và Ban Giám hiệu các cơ sở giáo dục đã quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trọng tâm là việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị vào chiến lược phát triển đội ngũ nhà giáo, xác định bồi dưỡng năng lực sư phạm (NLSP) cho giảng viên trẻ là “khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt”. Đây chính là tiền đề lý luận và thực tiễn để định hướng toàn bộ hoạt động bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa trong tình hình mới. Về phía chủ thể, đội ngũ giảng viên trẻ đã thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động. Đa số giảng viên đều xác định rõ trách nhiệm cá nhân, chủ động xây dựng lộ trình tự đào tạo, tự hoàn thiện. Đáng chú ý, nhiều giảng viên trẻ đã phát huy thế mạnh tư duy đổi mới, tích cực ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại trên nền tảng số, khai thác hiệu quả tài nguyên thông tin và các phần mềm chuyên ngành để làm giàu tri thức chuyên môn. Sự nhạy bén trong việc tiếp cận các công cụ chuyển đổi số đã giúp họ không chỉ làm chủ bục giảng mà còn khẳng định được năng lực trong nghiên cứu khoa học, tổ chức seminar và tư vấn học thuật, tạo sức hút lớn đối với người học. Quy trình bồi dưỡng tại các khoa, bộ môn cũng được thực hiện chặt chẽ thông qua cơ chế “giám sát và phản hồi” liên tục. Những nội dung chưa đạt chuẩn đều được yêu cầu chỉnh sửa, thông qua bài giảng nghiêm túc trước khi thực hiện trên lớp, góp phần nâng cao năng lực toàn diện một cách vững chắc. Bên cạnh đó, nội dung và hình thức bồi dưỡng đã có bước đột phá theo hướng số hóa và cá nhân hóa lộ trình phát triển. Sự tự tin, chủ động trong việc đảm nhận các chuyên đề khó, cùng tinh thần cầu thị, khiêm tốn học hỏi từ các chuyên gia giàu kinh nghiệm đã tạo nên một diện mạo mới cho đội ngũ giảng viên trẻ: năng động, bản lĩnh và thích ứng cao với môi trường giáo dục số. Tuy nhiên, bên cạnh những cái đã đạt được trên thì công tác bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ giảng viên trẻ ở các cơ sở giáo dục vẫn còn những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, nhận thức của một bộ phận cán bộ, giảng viên về vị trí, vai trò của việc nâng cao NLSP chưa thực sự đầy đủ và tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Trong công tác quản lý, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại một số cơ sở giáo dục còn thiếu tính định lượng và cụ thể; kế hoạch bồi dưỡng vẫn mang tính hình thức, chưa sát với nhu cầu thực tiễn và đặc biệt là chưa bắt kịp với tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục. Mặc dù lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã có chủ trương quan tâm, song việc thiếu các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề riêng biệt về bồi dưỡng NLSP cho giảng viên trẻ đã dẫn đến sự thiếu hụt khung pháp lý và định hướng chiến lược dài hạn. Công tác bồi dưỡng vẫn còn tình trạng “thời vụ”, thiếu tính hệ thống; việc ứng dụng hệ thống quản trị số để theo dõi, đánh giá lộ trình phát triển năng lực của giảng viên trẻ còn bỏ ngỏ, dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng chưa đồng đều và thiếu tính bền vững.

Hai là, nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng NLSP hiện nay vẫn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thiếu sự phân hóa theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức chuyên trách chưa thực sự nhịp nhàng, dẫn đến sự phân tán nguồn lực và chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy tính tích cực, tư duy sáng tạo của giảng viên trẻ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trong tổ chức thực hiện, kế hoạch bồi dưỡng ở nhiều nơi vẫn mang tính chắp vá, thụ động và thiếu tầm nhìn chiến lược. Quy trình chủ yếu mới dừng lại ở khâu giao nhiệm vụ hành chính, chưa chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ và hướng dẫn thực hành. Sự đứt gãy trong việc duy trì kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, đặc biệt là đối với nhóm giảng viên mới vào nghề, đã tạo ra sự phát triển không đồng đều về trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thiết lập một lộ trình bồi dưỡng cá nhân hóa trên nền tảng quản trị thông minh nhằm tối ưu hóa tiềm năng của đội ngũ kế cận.

Ba là, bên cạnh những yếu tố khách quan, tính chủ động và ý thức tự giác trong việc nâng cao năng lực sư phạm (NLSP) của một bộ phận giảng viên trẻ vẫn còn hạn chế. Quá trình tự đào tạo, tự bồi dưỡng chưa thực sự trở thành nhu cầu nội tại hay một thói quen chuyên môn bền vững. Điều này dẫn đến những lỗ hổng trong kỹ năng sư phạm thực hành: từ việc thiết kế đề cương bài giảng còn dàn trải, thiếu trọng tâm, đến việc phân bổ thời lượng chưa khoa học. Do tâm lý thiếu ổn định và bản lĩnh nghề nghiệp chưa vững, không ít giảng viên trẻ còn lúng túng, thiếu tự tin khi xử lý các tình huống sư phạm thực tế. Đặc biệt, chất lượng bài giảng của một bộ phận giảng viên trẻ chưa đáp ứng được kỳ vọng chuyên sâu. Nội dung truyền thụ chủ yếu dừng lại ở mức độ lý thuyết cơ bản, thiếu sự phân tích đa chiều, liên hệ thực tiễn chưa sát sao và phương pháp giảng dạy còn nặng về độc thoại một chiều. Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và các công cụ bổ trợ công nghệ số còn mang tính hình thức, chưa khai thác tối đa lợi thế của hệ sinh thái giáo dục hiện đại để kích thích tư duy người học.

    3. Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ ở các cơ sở giáo dục hiện nay

Một là, thúc đẩy sự chuyển biến về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trẻ.

Đây là giải pháp then chốt, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên trẻ. Về mặt lý luận và thực tiễn, nhận thức đúng đắn luôn là tiền đề cho hành động chính xác. Do đó, các cấp ủy, hệ thống chỉ huy, cơ quan chức năng và đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm phải xác định bồi dưỡng NLSP là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có tính chiến lược lâu dài. Để tạo chuyển biến thực chất, các chủ thể cần đánh giá khách quan thực trạng NLSP và những thách thức mới từ môi trường giáo dục số. Việc nâng cao nhận thức phải gắn liền với việc xác định rõ phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp (từ Đảng ủy đến các khoa, bộ môn). Toàn bộ hệ thống phải thống nhất quan điểm: bồi dưỡng giảng viên trẻ thực chất là quá trình xây dựng đội ngũ kế cận đủ tâm và tầm, đáp ứng chuẩn hóa trình độ nhà giáo trong tình hình mới. Việc quán triệt sâu sắc các chủ trương, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là giải pháp căn cơ, giúp tối ưu hóa công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo sự phát triển bền vững của cơ sở giáo dục trước những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn.

Hai là, chủ động lập kế hoạch, đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ theo từng nhóm đối tượng.

Đây là giải pháp trọng yếu, đóng vai trò điều kiện tiên quyết ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bồi dưỡng năng lực sư phạm . Việc triển khai giải pháp này chính là sự cụ thể hóa các chủ trương lãnh đạo vào thực tiễn huấn luyện và đào tạo tại nhà trường. Để tối ưu hóa nguồn lực, các cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ thống kế hoạch đồng bộ từ cấp Trường, Khoa, Bộ môn đến từng cá nhân. Công tác hoạch định phải dựa trên việc phân loại, đánh giá chính xác trình độ và đặc điểm của từng nhóm giảng viên trẻ để áp dụng các mô hình phù hợp như: bồi dưỡng tập trung, tập huấn định kỳ hoặc đào tạo trực tuyến (e-learning). Một kế hoạch khoa học cần xác định rõ: mục tiêu chuẩn đầu ra, nội dung trọng tâm, khung thời gian, lực lượng nòng cốt và các điều kiện đảm bảo về hạ tầng công nghệ. Nội dung bồi dưỡng cần thoát ly khỏi tính trừu tượng, tập trung vào các kỹ năng nghiệp vụ then chốt: quản trị tri thức, biên soạn giáo án điện tử, kỹ năng điều hành seminar và năng lực nghiên cứu khoa học độc lập. Trong bối cảnh mới, cần kiên quyết đổi mới hình thức bồi dưỡng theo hướng đa dạng và sáng tạo. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, cần tích cực ứng dụng các mô hình sư phạm số, hội thảo khoa học và các diễn đàn trao đổi chuyên môn trên không gian mạng. Sự linh hoạt trong phương thức tiếp cận không chỉ giúp nâng cao chất lượng bài giảng mà còn tạo động lực để giảng viên trẻ chủ động chiếm lĩnh các công nghệ giáo dục hiện đại.

Ba là, không ngừng tích lũy, tổng kết kinh nghiệm để từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.

Năng lực sư phạm là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài qua thực tiễn giảng dạy. Thông qua mỗi bài giảng, giảng viên trẻ phải chủ động tự rút kinh nghiệm, tinh chỉnh phương pháp và cập nhật giáo án để chuyển hóa tri thức thành kỹ năng nghiệp vụ thực thụ. Bên cạnh nỗ lực cá nhân, tinh thần cầu thị và việc học hỏi từ đồng nghiệp là yếu tố then chốt giúp hoàn thiện phong cách sư phạm. Tuy nhiên, mọi kỹ năng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi dựa trên nền tảng đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính động lực nội sinh này sẽ giúp giảng viên trẻ vượt qua rào cản kinh nghiệm để nhanh chóng hòa nhập vào đội ngũ. Sau cùng, nỗ lực chủ quan luôn giữ vai trò quyết định tối hậu. Việc biến quá trình bồi dưỡng thành nhu cầu tự thân, kết hợp giữa rèn luyện tư duy phản biện và đạo đức nghề nghiệp, chính là quy luật cốt lõi để nâng tầm năng lực giảng viên trẻ trong môi trường giáo dục hiện đại.

Bốn là, tăng cường phát huy tinh thần tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện và bồi dưỡng năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ.

Đây là giải pháp quan trọng nhằm phát huy yếu tố nội lực, thúc đẩy giảng viên trẻ phát triển năng lực nhận thức, năng lực công tác trong quá trình hoàn thiện kĩ năng sư phạm của người giảng viên. Phát huy yếu tố nội lực là giải pháp trọng yếu nhằm thúc đẩy giảng viên trẻ hoàn thiện năng lực nhận thức và kỹ năng sư phạm. Khi cá nhân xác định được niềm say mê và khát khao khẳng định bản thân, họ sẽ chủ động vượt qua mọi rào cản để chiếm lĩnh tri thức và trau dồi đạo đức nghề nghiệp. Mọi giải pháp hỗ trợ bên ngoài chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành động cơ, ý chí và quyết tâm tự giáo dục của mỗi giảng viên. Vì vậy, đây được xem là biện pháp có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến tiến trình nâng cao năng lực sư phạm hiện nay. Để hiện thực hóa điều này, mỗi giảng viên trẻ cần xây dựng kế hoạch tự học tập và rèn luyện một cách khoa học, nghiêm túc. Bản kế hoạch không chỉ là minh chứng cho tinh thần tự giác mà còn là công cụ quản trị bản thân hiệu quả, hướng tới việc hình thành các năng lực chuyên biệt theo chuẩn nhà giáo. Thực tiễn chứng minh rằng, mọi mục tiêu đều khó đạt được nếu thiếu một lộ trình chặt chẽ hoặc thiếu quyết tâm thực thi. Do đó, việc xây dựng và kiên trì thực hiện kế hoạch tự rèn luyện là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu để giảng viên trẻ khẳng định vị thế và uy tín trong môi trường giáo dục hiện đại.

Bồi dưỡng năng lực sư phạm (NLSP) cho đội ngũ giảng viên trẻ là một hệ thống các tác động đồng bộ từ tổ chức, các lực lượng chuyên trách đến sự nỗ lực tự thân của mỗi cá nhân. Quá trình này tập trung vào việc củng cố hệ thống tri thức, tinh luyện phương pháp tác phong và làm chủ các kỹ năng sư phạm hiện đại, nhằm hướng tới mục tiêu tối thượng là nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng các chuẩn mực giáo dục khắt khe. Đây là một nhiệm vụ mang tính khách quan, thường xuyên nhưng cũng đầy thách thức và phức tạp trong bối cảnh hiện nay. Để tối ưu hóa hiệu quả công tác bồi dưỡng, đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải quán triệt sâu sắc các yêu cầu thực tiễn, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi và đồng bộ. Các nhóm giải pháp này không tồn tại biệt lập mà nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng và hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, việc khai thác triệt để các nguồn lực hiện có đặc biệt là sự giao thoa giữa kinh nghiệm truyền thống và năng lực số sẽ tạo ra tiền đề vững chắc để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống. Sự kết hợp hài hòa giữa sự lãnh đạo sát sao của tổ chức và động lực tự thân của giảng viên chính là chìa khóa để xây dựng đội ngũ kế cận đủ bản lĩnh, tâm huyết, sẵn sàng đưa sự nghiệp giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường lên tầm cao mới.

4. Kết luận

Nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ trong giai đoạn chuyển đổi số là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống và sự nỗ lực không ngừng của mỗi cá nhân. Khi các giải pháp được triển khai một cách thực chất và hiệu quả, đây sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

 

Tài liệu tham khảo

          1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2012), Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược Phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020.

          2. Bộ Quốc phòng, (2013), Chiến lược Phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 2523/QĐ-BQP ngày 15- 7-2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

          3. Chính phủ, (2012), Chiến lược Phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ- TTg ngày 13/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ).

          4. Đồng Ngọc Châu, (2019), Giải pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên trẻ ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 hiện nay, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Sĩ quan Lục quân 2.

          5. Lê Minh Vụ, (2009), Quy trình đánh giá năng lực sư phạm quân sự của đối tượng tuyển chọn đào tạo giảng viên hiện nay, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

 

ENHANCING PEDAGOGICAL COMPETENCE FOR YOUNG LECTURERS IN THE DIGITAL TRANSFORMATION ERA: FROM PRACTICAL REQUIREMENTS TO IMPLEMENTATION MEASURES

 

 

Trần Đức Khánh Hùng

Faculty of National Defense and Security Education - Hanoi University of Science and Technology

 

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution, young lecturers play a pivotal role in realizing the goals of digital transformation in education. To overcome limitations in practical experience, educational institutions need to proactively implement plans to develop pedagogical competence in a digital-oriented direction. Equipping young lecturers with technological application mindsets and skills in managing online classrooms is not only an urgent short-term solution but also a strategic step toward enhancing the institution’s position and training quality in the digital era.

Keywords: Young lecturers; pedagogical competence; digital transformation

 

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).