NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Nguyễn Cao Phong – Đoàn Ngọc Ánh Huy
Trường Đại học Xây dựng Miền Tây
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học, chỉ ra những hạn chế, bất cập hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Bảo đảm chất lượng; hiệu quả; kiểm định giáo dục; giáo dục đại học; quản lý chất lượng.
Nhận bài: 02/4/2026; Biên tập: 03/4/2026; Duyệt đăng: 06/4/2026.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh nguồn nhân lực ngày càng gay gắt, chất lượng giáo dục đại học trở thành yếu tố quyết định vị thế của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, công tác bảo đảm chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học hiện nay.
2. Cơ sở lý luận về bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
Bảo đảm chất lượng giáo dục đại học được hiểu là tổng thể các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống và được triển khai thường xuyên nhằm duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng các chuẩn mực đã xác định cũng như nhu cầu của người học và xã hội. Ở góc độ lý luận hiện đại, bảo đảm chất lượng không chỉ là kiểm soát chất lượng đầu ra mà còn là quá trình quản trị chất lượng toàn diện, trong đó mọi yếu tố của quá trình giáo dục đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng.
Về cấu trúc, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học bao gồm hai thành tố cơ bản là bảo đảm chất lượng bên trong và bảo đảm chất lượng bên ngoài. Bảo đảm chất lượng bên trong là hệ thống các chính sách, quy trình, công cụ do cơ sở giáo dục xây dựng và vận hành nhằm tự kiểm soát và cải tiến chất lượng đào tạo. Đây là nền tảng cốt lõi, phản ánh năng lực tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục. Trong khi đó, bảo đảm chất lượng bên ngoài, mà tiêu biểu là kiểm định chất lượng giáo dục, là hoạt động đánh giá độc lập của các tổ chức có thẩm quyền nhằm xác nhận mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Hai thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành một chu trình cải tiến liên tục trong quản lý chất lượng giáo dục.
Cơ sở lý luận về bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay được định hướng rõ ràng bởi các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị chất lượng giáo dục”.
Tiếp đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều này đòi hỏi công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học phải gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đặt ra những định hướng có ý nghĩa trực tiếp đến công tác bảo đảm chất lượng. Trước hết, Nghị quyết yêu cầu đổi mới căn bản tư duy quản trị giáo dục theo hướng hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị chất lượng, coi người học là trung tâm, nhà trường là nền tảng và đội ngũ nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển hệ thống giáo dục đại học theo hướng mở, liên thông, gắn với thị trường lao động và hội nhập quốc tế, qua đó đặt ra yêu cầu tất yếu phải nâng cao chất lượng đào tạo một cách thực chất, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Bên cạnh đó, các định hướng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới căn bản giáo dục, trong đó công tác bảo đảm chất lượng giữ vai trò then chốt. Điều này cho thấy bảo đảm chất lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề chiến lược, gắn với sự phát triển bền vững của quốc gia.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, nội hàm của bảo đảm chất lượng giáo dục đại học tiếp tục được mở rộng. Nếu trước đây, chất lượng chủ yếu được đánh giá thông qua các yếu tố đầu vào và đầu ra, thì hiện nay, trọng tâm đã chuyển sang toàn bộ quá trình đào tạo và trải nghiệm của người học. Các yếu tố như mức độ hài lòng của sinh viên, khả năng thích ứng nghề nghiệp, năng lực số, kỹ năng mềm… ngày càng trở thành những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục.
Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng hệ thống quản trị chất lượng hiện đại, dựa trên dữ liệu và ứng dụng công nghệ số. Việc thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu trong quản lý đào tạo sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng dự báo trong bảo đảm chất lượng. Đồng thời, công nghệ số cũng tạo điều kiện để cá nhân hóa quá trình học tập, nâng cao trải nghiệm người học và cải tiến chất lượng đào tạo một cách liên tục.
Từ những cơ sở lý luận trên có thể khẳng định rằng, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học không chỉ là yêu cầu nội tại của hệ thống giáo dục mà còn là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Việc vận dụng hiệu quả các quan điểm của Đảng và Nhà nước, kết hợp với các mô hình quản trị hiện đại, sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Thực trạng công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã có những bước phát triển rõ nét, từng bước tiệm cận với các chuẩn mực khu vực và quốc tế. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã được hình thành tương đối đồng bộ, cả về hành lang pháp lý, tổ chức kiểm định và hoạt động triển khai thực tiễn.
Theo số liệu công bố của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cập nhật đến ngày 28/02/2026, cả nước đã có 277 cơ sở giáo dục (trường đại học, học viện, cao đẳng sư phạm) hoàn thành báo cáo tự đánh giá chu kỳ 1 và 143 cơ sở hoàn thành chu kỳ 2, cho thấy mức độ bao phủ ngày càng rộng của hoạt động bảo đảm chất lượng nội bộ trong toàn hệ thống. Đáng chú ý, số lượng cơ sở giáo dục được đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng tiếp tục gia tăng mạnh. Tính lũy kế theo các chu kỳ kiểm định, đã có 206 cơ sở giáo dục đại học được công nhận đạt chuẩn ở chu kỳ 1 và 136 cơ sở giáo dục đại học được công nhận đạt chuẩn ở chu kỳ 2, phản ánh xu hướng tái kiểm định và nâng cao chất lượng theo hướng bền vững.
So với giai đoạn trước (năm 2024 có khoảng 208 cơ sở được công nhận), các số liệu mới cho thấy không chỉ gia tăng về số lượng mà còn chuyển dịch sang chiều sâu chất lượng, thể hiện qua việc nhiều cơ sở đã hoàn thành kiểm định chu kỳ 2 - một yêu cầu quan trọng trong đảm bảo và cải tiến liên tục.
Bên cạnh đó, công tác kiểm định chương trình đào tạo cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có 2.179 chương trình đào tạo được kiểm định, trong đó 1.558 chương trình theo tiêu chuẩn trong nước và 621 chương trình theo tiêu chuẩn nước ngoài. Con số này tiếp tục tăng trong các năm, tính đến ngày 28/02/2026, có 3.226 chương trình được kiểm định, trong đó 2.505 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 721 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài, đã phản ánh xu hướng mở rộng kiểm định và nâng cao chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học.
Ngoài ra, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đã được thiết lập tại hầu hết các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường đã hình thành các đơn vị chuyên trách, xây dựng quy trình tự đánh giá và áp dụng các mô hình quản lý chất lượng hiện đại, góp phần từng bước hình thành văn hóa chất lượng trong nhà trường. Ở tầm vĩ mô, công tác kiểm định đã góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và uy tín của các cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân .
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập.
Thứ nhất, mặc dù số lượng cơ sở được kiểm định tăng nhanh, nhưng vẫn còn khoảng 15-25% cơ sở giáo dục đại học chưa được kiểm định hoặc chưa hoàn thành chu kỳ kiểm định đầy đủ, cho thấy mức độ bao phủ chưa thực sự toàn diện. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng kiểm định trong toàn hệ thống.
Thứ hai, số lượng chương trình đào tạo được kiểm định tuy đã tăng mạnh, nhưng so với tổng số hàng nghìn chương trình đào tạo hiện có, tỷ lệ này vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, số chương trình đạt chuẩn quốc tế (khoảng hơn 600 chương trình) còn chiếm tỷ lệ chưa cao, phản ánh mức độ hội nhập quốc tế trong kiểm định chất lượng còn chưa đồng đều giữa các cơ sở giáo dục .
Thứ ba, hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong ở nhiều cơ sở giáo dục đại học còn chưa cao. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường vẫn chưa vận hành hiệu quả hệ thống quản trị dữ liệu, chưa gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình đào tạo và quản trị nhà trường . Điều này dẫn đến tình trạng bảo đảm chất lượng mang tính hình thức, chưa thực sự trở thành công cụ quản lý hữu hiệu.
Thứ tư, năng lực của đội ngũ làm công tác bảo đảm chất lượng còn hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiểm định viên và cán bộ bảo đảm chất lượng tuy đã được triển khai, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng trong bối cảnh mở rộng quy mô kiểm định.
Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ trong bảo đảm chất lượng còn chưa đồng bộ. Hiện nay, dữ liệu về người học, chương trình đào tạo, kết quả học tập và việc làm sau tốt nghiệp còn phân tán ở nhiều hệ thống khác nhau, thiếu tính liên thông và chưa được khai thác hiệu quả để phục vụ công tác quản lý chất lượng. Trong khi đó, xu hướng quản trị đại học hiện đại đòi hỏi phải dựa trên dữ liệu và công nghệ số để nâng cao hiệu quả ra quyết định.
Từ thực trạng trên có thể thấy, mặc dù công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, song vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu phát triển và thực tiễn triển khai. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng trong giai đoạn tới.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế, việc nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm chất lượng cần được triển khai theo hướng toàn diện, thực chất và bền vững.
Trước hết, cần nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học.
Thực tiễn cho thấy, ở nhiều trường, bảo đảm chất lượng vẫn bị xem là nhiệm vụ mang tính thủ tục, phục vụ kiểm định, chưa trở thành giá trị cốt lõi trong hoạt động đào tạo. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “làm để kiểm định” sang “làm để nâng cao chất lượng”. Điều này đòi hỏi sự thay đổi nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, giảng viên và sinh viên, coi chất lượng là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống. Việc xây dựng văn hóa chất lượng cần được cụ thể hóa thông qua các quy chế nội bộ, chuẩn mực nghề nghiệp, cơ chế khuyến khích và đánh giá dựa trên chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ người học.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và tiếp cận quản trị đại học tiên tiến.
Các cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ thống thu thập và quản lý dữ liệu đồng bộ, bao gồm dữ liệu về tuyển sinh, quá trình học tập, kết quả tốt nghiệp, việc làm sau đào tạo và phản hồi của người học, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các quyết định về điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy, phân bổ nguồn lực cần được đưa ra dựa trên minh chứng cụ thể. Việc áp dụng chu trình cải tiến liên tục (lập kế hoạch - triển khai - đánh giá - cải tiến) cần trở thành nguyên tắc vận hành thường xuyên trong quản trị chất lượng.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa kiểm định chất lượng và cải tiến liên tục.
Kiểm định không nên được coi là “đích đến” mà phải là “điểm khởi đầu” của quá trình nâng cao chất lượng. Sau mỗi chu kỳ kiểm định, các cơ sở giáo dục cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để khắc phục những hạn chế đã được chỉ ra, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát việc thực hiện các khuyến nghị. Bộ tiêu chuẩn kiểm định cần được sử dụng như một công cụ tham chiếu thường xuyên trong quản lý đào tạo, thay vì chỉ sử dụng khi chuẩn bị đánh giá ngoài. Điều này sẽ giúp bảo đảm tính thực chất và bền vững của công tác bảo đảm chất lượng.
Thứ tư, phát triển đội ngũ làm công tác bảo đảm chất lượng theo hướng chuyên nghiệp hóa.
Trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm chất lượng không còn là công việc mang tính hành chính mà đòi hỏi trình độ chuyên môn cao về quản trị giáo dục, phân tích dữ liệu và đánh giá chất lượng. Do đó, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ này, đồng thời xây dựng cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ phù hợp. Bên cạnh đó, cần hình thành mạng lưới chuyên gia bảo đảm chất lượng trong và ngoài cơ sở giáo dục, thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao năng lực chuyên môn.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả quản trị chất lượng. Các cơ sở giáo dục cần triển khai các hệ thống quản lý học tập, hệ thống quản trị đại học tích hợp, công cụ khảo sát và đánh giá trực tuyến, qua đó thu thập dữ liệu một cách kịp thời và chính xác. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn có thể hỗ trợ dự báo xu hướng học tập, phát hiện sớm các vấn đề trong đào tạo và đề xuất giải pháp cải tiến phù hợp. Đồng thời, công nghệ cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng giải trình của cơ sở giáo dục đối với xã hội.
Thứ sáu, tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục đại học với thị trường lao động và các bên liên quan trong bảo đảm chất lượng.
Chất lượng đào tạo cần được đánh giá không chỉ từ góc độ nhà trường mà còn từ phía người sử dụng lao động và xã hội. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế thu thập và sử dụng thường xuyên ý kiến phản hồi của doanh nghiệp, cựu sinh viên và các tổ chức nghề nghiệp trong việc xây dựng và điều chỉnh chương trình đào tạo. Việc mở rộng hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và nghiên cứu ứng dụng sẽ góp phần nâng cao tính thực tiễn và chất lượng đầu ra của sinh viên.
Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế trong kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.
Việc tham gia các mạng lưới kiểm định khu vực và quốc tế không chỉ giúp các cơ sở giáo dục nâng cao uy tín mà còn tạo điều kiện tiếp cận các mô hình quản trị chất lượng tiên tiến. Thông qua hợp tác quốc tế, các cơ sở giáo dục có thể học hỏi kinh nghiệm, chuẩn hóa quy trình và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn mực toàn cầu. Đây cũng là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mang tính toàn cầu hóa.
5. Kết luận
Bảo đảm chất lượng giáo dục đại học là yếu tố then chốt quyết định chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, công tác này cần được đổi mới theo hướng thực chất, hiện đại và hiệu quả.
Việc xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng mạnh, gắn với văn hóa chất lượng và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời đại mới.
Tài liệu tham khảo
-
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
-
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
-
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
-
Cục Quản lý chất lượng (Ngày 18/9/2024). Danh sách các cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và được đánh giá/công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (cập nhật đến ngày 31/8/2024). Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/thong-bao-quan-ly-bao-dam/thong-bao/danh-sach-cac-co-so-giao-duc-chuong-trinh-dao-tao-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-da-hoan-thanh-bao-cao-tu-danh-gia-va-duoc-danh-gia-cong-nhan-dat-tieu-chuan-chat-luong-giao-duc-cap-nhat-den-ngay-31-8-2024-56.html
-
Cục Quản lý chất lượng (Ngày 03/9/2025). Sáu nội dung lớn sửa đổi quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/sau-noi-dung-lon-sua-doi-quy-dinh-ve-kiem-dinh-chat-luong-co-so-giao-duc-dai-hoc-221.html
-
Cục Quản lý chất lượng (Ngày 05/03/2026). Danh sách các cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và được đánh giá/công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (cập nhật đến ngày 28/02/2026).Truy cập từ https://vqa.moet.gov.vn/vi/thong-bao-quan-ly-bao-dam/thong-bao/danh-sach-cac-co-so-giao-duc-chuong-trinh-dao-tao-giao-duc-dai-hoc-va-cao-dang-su-pham-da-hoan-thanh-bao-cao-tu-danh-gia-va-duoc-danh-gia-cong-nhan-dat-tieu-chuan-chat-luong-giao-duc-cap-nhat-den-ngay-28-02-2026-87.html
-
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
-
Hà, G. (Ngày 14/10/2025). Hướng tới chuẩn quốc tế trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. Tạp chí Giáo dục điện tử. Truy cập từ https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/90295/211/huong-toi-chuan-quoc-te-trong-kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-viet-nam/
-
Lê, N. (Ngày 10/02/2025). Kiểm định chất lượng giáo dục đại học: Khẳng định vị thế, Tạp chí Giáo dục và thời đại điện tử. Truy cập từ https://giaoducthoidai.vn/kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-khang-dinh-vi-the-post718738.html
-
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại học. Luật số 125/2025/QH15, ban hành ngày 10/12/2025.
-
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 78/QĐ-TTg ngày 14/01/2022 phê duyệt Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm giai đoạn 2022–2030.
ENHANCING THE EFFECTIVENESS OF QUALITY ASSURANCE IN HIGHER EDUCATION INSTITUTIONS IN THE CURRENT CONTEXT
Nguyen Cao Phong – Doan Ngoc Anh Huy
Mien Tay Construction University
Email: [email protected]
Abstract
In the context of comprehensive educational reform, quality assurance in higher education plays a crucial role in improving human resource quality. This paper examines the theoretical and practical aspects of quality assurance in higher education institutions, identifies current limitations and shortcomings, and proposes several solutions to strengthen its effectiveness in response to digital transformation and global integration.
Keywords: Quality assurance; effectiveness; accreditation; higher education; quality management.