1. Tư vấn phản biện
  2. >
  3. Bài báo khoa học

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHẤP HÀNH KỶ LUẬT CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

03:28 | 25/09/2025
aA

 

Thượng tá, TS Trần Quốc Cường

Chủ nhiệm bộ môn, Khoa Hồ Chí Minh

Học viện Chính trị

Tóm tắt: Kỷ luật quân đội là nhân tố cơ bản, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh và uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, kỷ luật không chỉ là chấp hành mệnh lệnh, điều lệnh mà còn phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức và tác phong quân nhân. Với giảng viên trẻ ở các trường quân đội, vai trò càng đặc thù: vừa là sĩ quan quân đội, vừa là nhà giáo, nhà khoa học, trực tiếp rèn luyện tri thức, nhân cách và kỷ luật cho học viên. Do đó, nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ là yêu cầu cấp thiết, nhằm bảo đảm tính nêu gương, đáp ứng mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Từ khóa: Chấp hành kỷ luật, giảng viên trẻ, trường quân đội, chất lượng, rèn luyện tri thức

Nhận bài: 24/9/2025; Biên tập: 25/9/2025; Duyệt đăng: 25/9/2025

1. Cơ sở lý luận của chấp hành kỷ luật trong quân đội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kỷ luật là điều kiện bảo đảm sự thống nhất, là sức mạnh vũ trang của giai cấp công nhân. Trong quân đội, kỷ luật giữ vai trò đặc biệt, bảo đảm cho quân nhân hành động thống nhất, phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh chỉ huy, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh cách mạng. V.I.Lênin nhấn mạnh: “... ở đâu kỷ luật giữ nước được giữ vững nhất, ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các ủy viên chính trị làm được chu đáo nhất, thì ở đấy... không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội; quân đội đó giữ được trật tự tốt hơn và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy cũng thu được nhiều thắng lợi hơn”[1]. 

"Kỷ luật cần nghiêm minh". Ảnh: minh họa

Từ những ngày đầu thành lập Quân đội, cũng như khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tầm quan trọng của kỷ luật quân đội, Người cho rằng: “Bộ đội không có kỷ luật đánh giặc nhất định thua”[2]. Trong Mục đọc sách ở cuối tập thơ Nhật ký trong tù Hồ Chí Minh đã ghi chép Những hiểu biết cơ bản về quân sự, trong đó Người nhấn mạnh: “Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự. Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự”[3]. Điều đó cho thấy, kỷ luật là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Quân đội đó là kỷ luật. Trong Bài nói chuyện với các đại biểu Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”[4]. Theo Hồ Chí Minh, kỷ luật là nhân tố nền tảng, quyết định sức mạnh chiến đấu và uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam, kỷ luật quân đội phải gắn liền với bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Kỷ luật không phải là sự gò ép, cưỡng bức, mà là sự thống nhất tự giác giữa ý chí và hành động của mỗi quân nhân với mục tiêu chung: trung thành với Tổ quốc, với Đảng, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh. Người yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, đồng thời phát huy tinh thần tự giác, coi chấp hành kỷ luật là danh dự, trách nhiệm và niềm tự hào; kỷ luật quân đội không chỉ thể hiện ở việc tuân thủ điều lệnh, điều lệ, giờ giấc, mệnh lệnh, mà còn ở phẩm chất chính trị, đạo đức và tác phong của quân nhân, kỷ luật không đơn thuần là khuôn khổ ràng buộc mà còn là môi trường rèn luyện để hình thành bản lĩnh, tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong cách mạng.

Quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đều nhất quán coi kỷ luật là nguyên tắc sống còn, là sức mạnh, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phát huy tính tự giác, nghiêm minh trong mọi hoạt động. Kỷ luật quân đội không chỉ là tuân thủ điều lệnh, mệnh lệnh, mà còn là sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện, nhà trường quân đội ngày càng toàn diện và khắt khe hơn. Giảng viên trẻ không chỉ là sĩ quan quân đội – người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chính trị, quân sự, mà đồng thời còn giữ vai trò là nhà giáo, nhà khoa học, tham gia đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cán bộ kế cận cho quân đội. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, bởi chất lượng đội ngũ cán bộ trong tương lai phụ thuộc trực tiếp vào năng lực, phẩm chất và uy tín của người thầy hôm nay. Điều này đặt ra yêu cầu giảng viên trẻ phải thật sự gương mẫu trong chấp hành kỷ luật quân đội, đây yếu tố cốt lõi để giữ vững sức mạnh, sự chính quy và tính thống nhất trong môi trường quân ngũ. Kỷ luật không chỉ là chuẩn mực rèn luyện bản thân, mà còn là tấm gương trực quan, tạo uy tín và niềm tin đối với học viên. Cùng với đó, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, tác phong sư phạm mẫu mực chính là nền tảng để giảng viên trẻ truyền đạt không chỉ tri thức, mà còn cả lý tưởng, niềm tin và động lực cho thế hệ sĩ quan tương lai.Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, cùng tác động đa chiều từ xã hội mở, giảng viên trẻ càng phải chủ động đổi mới, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, đồng thời kiên định bản lĩnh chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu thiếu bản lĩnh và sự gương mẫu, giảng viên trẻ khó có thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện đại, hội nhập nhưng vẫn giữ vững bản chất, truyền thống quân đội cách mạng.

Như vậy, yêu cầu đối với giảng viên trẻ ở các trường quân đội không chỉ dừng lại ở việc giỏi chuyên môn, mà còn phải là hình mẫu về nhân cách, kỷ luật và lý tưởng. Họ vừa là người chiến sĩ trên mặt trận quân sự, vừa là người thầy trên bục giảng, vừa là nhà khoa học trong nghiên cứu, sáng tạo. Đó chính là sự hội tụ đặc thù, làm nên uy tín, sức hấp dẫn và vai trò then chốt của giảng viên trẻ trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Việc nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ không chỉ góp phần củng cố sức mạnh, uy tín của quân đội, mà còn bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo, đáp ứng mục tiêu xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

3. Thực trạng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ ở các trường quân đội hiện nay

Những năm gần đây, đội ngũ giảng viên trẻ trong các học viện, nhà trường quân đội đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của mình trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân đội. Họ không chỉ là những sĩ quan trẻ, mà còn là những nhà giáo, nhà khoa học, trực tiếp góp phần hình thành thế hệ sĩ quan tương lai – những người sẽ gánh vác trọng trách bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điểm nổi bật là đa số giảng viên trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức rõ ràng về vị trí, vai trò của kỷ luật đối với sức mạnh, uy tín và sự trường tồn của quân đội. Điều này không chỉ là kết quả của quá trình đào tạo bài bản trong môi trường quân ngũ, mà còn là sự kế thừa, tiếp nối truyền thống kỷ luật thép đã trở thành bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình học tập, rèn luyện, giảng viên trẻ được trang bị đầy đủ về tri thức quân sự, chuyên môn sư phạm và phương pháp nghiên cứu khoa học. Chính nền tảng này đã tạo nên một thế hệ sĩ quan – giảng viên có phẩm chất đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, giàu nhiệt huyết, luôn khát vọng cống hiến và trưởng thành. Điều đó thể hiện trước hết ở sự nghiêm túc trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, quy định của quân đội. Họ ý thức sâu sắc rằng, chấp hành kỷ luật không chỉ là nghĩa vụ của quân nhân, mà còn là chuẩn mực, là “tấm gương sống” đối với học viên. Mỗi hành vi, lời nói, cử chỉ, tác phong của giảng viên trẻ đều có sức lan tỏa, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách, phong cách quân nhân ở học viên.

Bên cạnh đó, nhiều giảng viên trẻ đã thể hiện tinh thần tiên phong, nêu gương trong cả giảng dạy, nghiên cứu và sinh hoạt hằng ngày. Trong giảng dạy, họ nghiêm túc chuẩn bị bài giảng, kết hợp phương pháp sư phạm truyền thống với ứng dụng công nghệ hiện đại, tạo không khí học tập sôi nổi, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên. Trong nghiên cứu khoa học, họ tham gia tích cực các đề tài, hội thảo, tìm tòi hướng đi mới, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho sự nghiệp xây dựng quân đội. Trong đời sống hằng ngày, họ giữ lối sống giản dị, gần gũi, chan hòa với đồng chí, đồng đội, qua đó củng cố đoàn kết nội bộ, xây dựng môi trường sư phạm trong sạch, lành mạnh.

Có thể nói, hình ảnh người giảng viên trẻ trong quân đội hôm nay là sự kết hợp hài hòa giữa ba vai trò: sĩ quan, nhà giáo và nhà khoa học. Họ vừa là người lính kỷ luật, gương mẫu, vừa là người thầy truyền đạt tri thức, vừa là nhà nghiên cứu có khát vọng sáng tạo, đóng góp tri thức mới cho quân đội. Nhiều giảng viên trẻ đã tích cực rèn luyện tác phong mẫu mực: từ cách ăn mặc đúng điều lệnh, đến cách ứng xử văn hóa, khoa học, sư phạm; từ việc tuân thủ giờ giấc, quy định đơn vị, đến tinh thần trách nhiệm trong mọi công việc. Chính sự mẫu mực này đã tạo ảnh hưởng tích cực, khích lệ học viên noi theo, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong đơn vị.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tác động đa chiều của xã hội mở, yêu cầu đặt ra đối với giảng viên trẻ không chỉ dừng lại ở việc chấp hành nghiêm kỷ luật, mà còn phải liên tục tự rèn luyện, nâng cao năng lực. Họ cần không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức mới, trau dồi ngoại ngữ, công nghệ thông tin, đồng thời kiên định lập trường chính trị, vững vàng bản lĩnh trước mọi tác động, cám dỗ bên ngoài. Chỉ khi hội tụ đủ bản lĩnh, tri thức, phẩm chất đạo đức và phong cách sư phạm, giảng viên trẻ mới có thể làm tròn sứ mệnh đào tạo đội ngũ sĩ quan kế cận, những người vừa giỏi chuyên môn, vừa kiên định lý tưởng, vừa vững vàng về đạo đức, kỷ luật. Đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện, nhà trường quân đội hôm nay chính là lực lượng nòng cốt, đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Sự gương mẫu trong kỷ luật, phẩm chất chính trị, cùng khát vọng cống hiến và tinh thần tiên phong của họ không chỉ tạo ảnh hưởng tích cực trong đơn vị, mà còn góp phần khẳng định uy tín, bản lĩnh và hình ảnh cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới.

 

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng đội ngũ giảng viên trẻ ở các học viện, nhà trường quân đội vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, đòi hỏi sự quan tâm khắc phục. Một bộ phận giảng viên trẻ chưa thực sự nghiêm túc trong việc chấp hành giờ giấc, chế độ công tác và sinh hoạt. Đây là vấn đề không nhỏ, bởi trong quân đội, kỷ luật và giờ giấc được coi là “sợi chỉ đỏ” bảo đảm tính chính quy, thống nhất. Nếu để tình trạng này kéo dài, dễ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân, thậm chí làm giảm hiệu quả giáo dục kỷ luật cho học viên.

Một số giảng viên trẻ còn hạn chế trong tác phong sư phạm, chưa thật sự mẫu mực trong lối sống và ứng xử. Sự thiếu chuẩn mực, dù nhỏ, cũng có thể gây ấn tượng không tốt với học viên, làm giảm hiệu quả truyền đạt tri thức và ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách người sĩ quan tương lai. Đặc biệt, trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh, việc sử dụng thiếu thận trọng, dễ dãi của một số giảng viên trẻ đã nảy sinh nguy cơ ảnh hưởng đến uy tín cá nhân và hình ảnh người quân nhân, nhà giáo. Đây là vấn đề mới, mang tính thời sự, đòi hỏi mỗi giảng viên trẻ phải tự giác rèn luyện bản lĩnh, có trách nhiệm với từng hành vi trên không gian mạng.

Ngoài ra, công tác quản lý sinh hoạt cá nhân đôi khi còn lỏng lẻo, chưa thật sự chặt chẽ theo điều lệnh, quy định của quân đội. Cùng với đó, áp lực từ khối lượng công việc lớn, vừa giảng dạy, nghiên cứu khoa học, vừa tham gia nhiều hoạt động khác khiến không ít giảng viên trẻ thường xuyên rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi. Nếu không có sự cân bằng hợp lý, tình trạng này có thể làm giảm tính tự giác, ảnh hưởng đến kỷ luật và chất lượng công tác. Việc nhận diện rõ những hạn chế này có ý nghĩa quan trọng, vừa để cảnh tỉnh, vừa để xây dựng các giải pháp phù hợp, giúp giảng viên trẻ phát huy ưu điểm, khắc phục khó khăn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo trong tình hình mới.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, sự tác động đa chiều của xã hội mở và công nghệ số đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, lối sống của giảng viên trẻ. Mặt khác, yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo trong quân đội ngày càng cao, khối lượng và cường độ công việc lớn, đòi hỏi giảng viên trẻ phải không ngừng đổi mới phương pháp, nâng cao trình độ, dẫn đến áp lực nặng nề. Về chủ quan, ý thức tự giác của một số giảng viên trẻ chưa thật sự cao, chưa nhận thức đầy đủ tính nghiêm minh, tính nêu gương trong chấp hành kỷ luật. Một số cơ quan, đơn vị quản lý chưa thường xuyên, sâu sát; công tác kiểm tra, giám sát, nhắc nhở đôi khi còn hình thức, thiếu kiên quyết. Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá, xử lý vi phạm đôi khi chưa nghiêm, chưa kịp thời, làm giảm tính răn đe và giáo dục. Để nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ ở các trường quân đội hiện nay, một trong những yêu cầu phải có giải pháp đồng bộ, thiết thực để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, bảo đảm đội ngũ giảng viên trẻ luôn là lực lượng gương mẫu, nòng cốt trong giáo dục, đào tạo cán bộ quân đội, góp phần trực tiếp xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ ở các trường quân đội hiện nay

Một là, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho giảng viên trẻ ở các trường quân đội. Giáo dục chính trị, tư tưởng là biện pháp nền tảng, có ý nghĩa quyết định đến nhận thức và hành động của giảng viên trẻ. Cần thường xuyên tổ chức học tập nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là quan điểm về kỷ luật, đạo đức và trách nhiệm nêu gương. Nội dung giáo dục phải toàn diện nhưng có trọng tâm, nhấn mạnh mối quan hệ giữa kỷ luật quân đội với sức mạnh chiến đấu, với phẩm chất và uy tín của người giảng viên, sĩ quan. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tập trung với tự học, tự rèn luyện, tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động, làm cho giảng viên trẻ coi việc chấp hành kỷ luật là nhu cầu tự thân, là danh dự, là phẩm chất cốt lõi của người quân nhân.

Hai là, phát huy vai trò nêu gương, xây dựng hình mẫu giảng viên trẻ mẫu mực. Trong môi trường quân đội, nêu gương có sức thuyết phục, lan tỏa mạnh mẽ. Do đó, cần quan tâm xây dựng, bồi dưỡng những giảng viên trẻ điển hình trong chấp hành kỷ luật, có tác phong sư phạm chuẩn mực, gắn bó với học viên, nhiệt tình trong nghiên cứu khoa học. Các điển hình tiên tiến cần được biểu dương, nhân rộng thông qua các phong trào thi đua, hội nghị tổng kết, chuyên mục trên báo, tạp chí quân đội. Khi có những hình mẫu cụ thể, sinh động, giảng viên trẻ sẽ có mục tiêu để phấn đấu, rèn luyện, từ đó hình thành động lực mạnh mẽ trong giữ gìn và nâng cao ý thức kỷ luật.

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đối với giảng viên trẻ ở các trường quân đội. Quản lý và kiểm tra, giám sát là khâu quan trọng để bảo đảm tính nghiêm minh, chặt chẽ của kỷ luật quân đội. Các trường quân đội cần duy trì nghiêm chế độ, quy định, điều lệnh; gắn việc chấp hành kỷ luật với các khâu đánh giá, xếp loại, khen thưởng, đề bạt giảng viên trẻ. Cần khắc phục biểu hiện buông lỏng, hình thức, nể nang trong quản lý; đồng thời phát huy trách nhiệm, vai trò nêu gương của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị. Mọi vi phạm kỷ luật, dù nhỏ, cũng phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công bằng, qua đó củng cố niềm tin và nâng cao tính răn đe, giáo dục.

Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng môi trường sư phạm quân sự lành mạnh. Một môi trường quân sự chính quy, dân chủ, kỷ luật và nhân văn sẽ tạo điều kiện để giảng viên trẻ phát triển toàn diện. Cần kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật nghiêm minh với sự khuyến khích sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong giảng dạy và nghiên cứu. Tập thể sư phạm phải là nơi đoàn kết, chia sẻ, hỗ trợ, giúp giảng viên trẻ yên tâm công tác, mạnh dạn phát huy năng lực, song vẫn tuân thủ chuẩn mực kỷ luật quân đội. Việc duy trì đối thoại dân chủ, lắng nghe ý kiến, phản hồi của giảng viên trẻ sẽ giúp giải quyết kịp thời những vướng mắc, hạn chế, tránh phát sinh tư tưởng tiêu cực, tự do, tùy tiện.

Năm là, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tâm tư, nguyện vọng của giảng viên trẻ ở các trường quân đội. Chấp hành kỷ luật không chỉ là vấn đề ý thức, mà còn gắn liền với điều kiện sống, làm việc của giảng viên trẻ. Vì vậy, cần có cơ chế, chính sách quan tâm đời sống, chế độ đãi ngộ, bảo đảm nơi ở, sinh hoạt, phương tiện làm việc, nghiên cứu. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kịp thời động viên, hỗ trợ để giảng viên trẻ khắc phục khó khăn, an tâm công tác, gắn bó lâu dài với nhà trường, với quân đội.

Những giải pháp nêu trên có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, trong đó giáo dục chính trị, tư tưởng là gốc, nêu gương là động lực, quản lý, kiểm tra là bảo đảm, môi trường dân chủ, nhân văn là nền tảng, chăm lo đời sống là điều kiện. Thực hiện đồng bộ, kiên trì các giải pháp sẽ tạo chuyển biến rõ rệt, giúp giảng viên trẻ không chỉ chấp hành nghiêm kỷ luật, mà còn trở thành lực lượng nòng cốt, mẫu mực trong xây dựng môi trường sư phạm quân sự chính quy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của giảng viên trẻ ở các trường quân đội là yêu cầu tất yếu, xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, gắn với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Kỷ luật không chỉ bảo đảm tính thống nhất, nghiêm minh trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu mà còn là thước đo phẩm chất, uy tín của người giảng viên, sĩ quan. Nâng cao ý thức kỷ luật sẽ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ, xây dựng đội ngũ sĩ quan tương lai có bản lĩnh, trí tuệ, kỷ luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Hà Nội.
  2. Bộ Quốc phòng. (2023). Quyết định số 3525/QĐ-BQP phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội giai đoạn 2023–2030”. Hà Nội.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  4. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 3, Tập 10). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  5. Quân ủy Trung ương. (2022). Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Hà Nội.
  6. Lênin, V. I. (1959). Tuyển tập (Tập 2, Phần 2, tr. 234). Hà Nội: Nhà xuất bản Sự thật.

 

 

* Chủ nhiệm Bộ môn, Khoa Hồ Chí Minh học, Học viện Chinh trị

[1] V.I.Lênin tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, quyền 2, phần 2, tr. 234

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.341.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Sđd, tr.455.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Sđd, tr. 489.

Ý kiến bạn đọc
VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH  CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự và đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ khoá: Tiềm lực khoa học quân sự; công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).