1. Tư vấn phản biện
  2. >
  3. Bài báo khoa học

MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CẤP UỶ – TIỀN ĐỀ GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

11:13 | 08/12/2025
aA

 

ThS. Nguyễn Công Chánh

Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

Email: [email protected]

I. Tóm tắt

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân; qua đó hình thành sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng. Đây cũng là nguyên tắc mang giá trị giáo dục sâu sắc, góp phần rèn luyện cán bộ, đảng viên về phong cách làm việc khoa học, kỷ luật và tinh thần thảo luận dân chủ trong mọi quyết sách.

Quy chế làm việc là công cụ cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và chế độ làm việc của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc không chỉ bảo đảm tính pháp lý, minh bạch mà còn có ý nghĩa giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm và phương pháp làm việc chuẩn mực cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc luôn gắn bó chặt chẽ: quy chế làm việc giúp hiện thực hóa nguyên tắc trong thực tiễn, còn nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng tư tưởng, chính trị để xây dựng, vận hành quy chế làm việc hiệu quả. Khi được triển khai đồng bộ, hai yếu tố này vừa bảo đảm hiệu quả lãnh đạo, điều hành, vừa góp phần giáo dục, hình thành môi trường làm việc kỷ luật, kỷ cương và thống nhất trong tổ chức đảng và toàn hệ thống chính trị.

Từ khóa: Nguyên tắc; tập trung; dân chủ; quy chế làm việc; tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật

Nhận bài: 7/12/2025; Biên tập: 8/12/2025; Duyệt đăng: 8/12/2025.

II. Nội dung nghiên cứu

1. Tính thực tiễn

Nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản, mang tính bắt buộc trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây vừa là luận điểm có giá trị lý luận cốt lõi, vừa là phương pháp tổ chức, điều hành thực tiễn nhằm bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của Đảng trong mọi lĩnh vực. Để cụ thể hóa và vận dụng nguyên tắc này vào thực tiễn lãnh đạo, một trong những công cụ quan trọng nhất là quy chế làm việc của cấp ủy. Quy chế làm việc không chỉ là văn bản quy phạm nội bộ quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, quy trình và phương thức làm việc của cấp ủy, mà còn là phương tiện thể chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong điều kiện, bối cảnh cụ thể của từng tổ chức đảng.

Kết quả thực tiễn cho thấy, ở những tổ chức đảng mà cấp ủy nhận thức đúng và vận dụng thống nhất nguyên tắc tập trung dân chủ gắn với xây dựng, ban hành và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo diễn ra nền nếp, khoa học; dân chủ nội bộ được phát huy; kỷ luật, kỷ cương được giữ vững; trách nhiệm cá nhân và tập thể được xác định rõ ràng. Ngược lại, việc xem nhẹ hoặc tách rời nguyên tắc tập trung dân chủ khỏi quy chế làm việc, hoặc thực hiện một cách hình thức, dễ dẫn đến những hạn chế như lạm quyền, tùy tiện trong quyết định, né tránh trách nhiệm, thiếu dân chủ, suy giảm hiệu lực lãnh đạo, thậm chí gây mất đoàn kết nội bộ.

Từ những vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu một cách hệ thống mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc của cấp ủy có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để nhận diện những yêu cầu, điều kiện bảo đảm và các nhân tố tác động; đồng thời góp phần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo; qua đó xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh cả về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín chính trị.

2. Nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ sở xây dựng nội dung quy chế làm việc

Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp biện chứng giữa tập trung và dân chủ, hai yếu tố tưởng như đối lập nhưng lại thống nhất trong việc xác lập phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, dân chủ là cơ sở để hình thành quyết định đúng đắn trên cơ sở tập hợp trí tuệ tập thể, còn tập trung là kết quả tất yếu của dân chủ được thực hành đầy đủ, đảm bảo sự thống nhất trong ý chí và hành động của toàn Đảng.

Điều lệ Đảng và các văn kiện chính thức đã xác định rõ nội dung cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ, bao gồm:

(1). Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra và thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

(2). Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc; ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo là Ban Chấp hành Trung ương; ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (cấp ủy).

(3). Cấp ủy các cấp có trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; đồng thời phải định kỳ thông báo tình hình hoạt động, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình.

(4). Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

(5). Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có quá nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết; cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

(6). Tổ chức đảng được quyền quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền nhưng không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, xuyên suốt và mang tính nền tảng trong xây dựng và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, đồng thời phát huy đầy đủ trí tuệ, tinh thần trách nhiệm của từng tổ chức đảng và từng đảng viên.

Về mặt lý luận, nguyên tắc này thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn là một chỉnh thể thống nhất về ý chí và hành động. Dân chủ cho phép mọi đảng viên phát biểu ý kiến, đóng góp vào quá trình xây dựng chủ trương, đường lối; trong khi tập trung bảo đảm sự thống nhất, tránh tình trạng cục bộ, phân tán hoặc tùy tiện trong lãnh đạo.

Về mặt thực tiễn, nguyên tắc tập trung dân chủ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; đề cao trách nhiệm cá nhân gắn với vai trò của tập thể lãnh đạo; hạn chế quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán; đồng thời củng cố đoàn kết nội bộ, kỷ luật và kỷ cương trong tổ chức đảng. Việc thực hiện đúng đắn nguyên tắc này tạo ra cơ sở vững chắc để cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong bối cảnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng hiện nay, nguyên tắc tập trung dân chủ tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Yêu cầu đặt ra là phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc; thực hành dân chủ thực chất, khắc phục dân chủ hình thức. Điều này có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Việc quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện quan trọng để phát huy sức mạnh tập thể, nâng cao vai trò và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, khoa học và hiệu lực trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở.

3. Quy chế làm việc, công cụ thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ

Quy chế làm việc là văn bản quy định cụ thể nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền, phương pháp và mối quan hệ công tác giữa các tập thể, cá nhân trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Trong tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan, đơn vị, quy chế làm việc giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ tổ chức và điều hành hiệu quả hoạt động theo đúng đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Thứ nhất, quy chế làm việc là công cụ cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý. Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi mọi hoạt động phải đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của tập thể, đồng thời phát huy trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân. Thông qua quy chế làm việc, các nguyên tắc này được chuyển hóa thành cơ chế vận hành rõ ràng, giúp khắc phục tình trạng tùy tiện, chuyên quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo trong tổ chức.

Thứ hai, quy chế làm việc xác định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các cá nhân và tập thể, tạo cơ sở cho việc đánh giá, kiểm tra, giám sát hoạt động của từng bộ phận, từng cá nhân trong hệ thống chính trị. Việc phân công rõ ràng hạn chế chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy vai trò, năng lực và sự sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, quy chế làm việc góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành. Quy chế là căn cứ để tổ chức các cuộc họp, xử lý công việc, ban hành văn bản hay giải quyết các tình huống phát sinh. Nhờ có quy chế, hoạt động của tổ chức được tiến hành bài bản, kỷ cương, đúng quy trình, giảm thiểu các biểu hiện cảm tính, tùy tiện trong giải quyết công việc.

Thứ tư, quy chế làm việc giúp xây dựng môi trường làm việc dân chủ, minh bạch và trách nhiệm; từ đó thúc đẩy đoàn kết nội bộ và phát huy sức mạnh tập thể. Khi mọi thành viên đều làm việc trên cơ sở các quy định rõ ràng, công khai, sẽ hạn chế mâu thuẫn, tiêu cực và tạo nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh.

Thứ năm, quy chế làm việc là căn cứ quan trọng để đổi mới phương thức lãnh đạo, cải cách hành chính và thích ứng với yêu cầu phát triển, hội nhập. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tinh gọn bộ máy, tăng cường phân cấp và ủy quyền, việc xây dựng một quy chế khoa học, linh hoạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm giúp tổ chức nâng cao chất lượng quản trị, tăng tính chủ động và khả năng thích ứng trước các thay đổi của thực tiễn.

Tóm lại, quy chế làm việc không chỉ là văn bản hành chính mang tính hình thức, mà là cơ sở pháp lý, tổ chức để bảo đảm hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đơn vị được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm. Đồng thời, đây là công cụ quan trọng để nâng cao kỷ luật, kỷ cương, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Như vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc luôn có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ. Nguyên tắc là nền tảng tư tưởng, còn quy chế là công cụ thực hành. Nguyên tắc tập trung dân chủ là tư tưởng chỉ đạo, là linh hồn của phương thức tổ chức đảng; trong khi đó, quy chế làm việc là phương tiện để nguyên tắc này đi vào đời sống thực tiễn một cách sinh động và hiệu quả. Quy chế làm việc đồng thời cũng phản ánh mức độ thực hiện nguyên tắc: một tổ chức đảng có quy chế cụ thể, rõ ràng và được thực hiện nghiêm túc sẽ thể hiện trình độ tổ chức cũng như mức độ quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ cao. Ngược lại, nếu quy chế bị xem nhẹ hoặc không được tuân thủ, thì nguyên tắc này cũng khó được đảm bảo trong thực tế.

Cả hai yếu tố, nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, đều góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng. Khi mối quan hệ này được thực hiện đầy đủ và hài hòa, tổ chức đảng sẽ hoạt động đúng chức năng, phát huy dân chủ nội bộ, giữ vững kỷ luật đảng, tăng cường đoàn kết và nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo trong thực tiễn.

        4. Một số hạn chế, bất cập trong thực tế hiên nay

Một là, quy chế làm việc ở một số nơi còn hình thức, sao chép, thiếu tính thực tiễn Một số cấp ủy khi xây dựng quy chế làm việc vẫn mang tính rập khuôn, máy móc theo mẫu, không xuất phát từ điều kiện thực tế và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của địa phương, đơn vị.

Hai là, chưa thực hiện nghiêm quy chế đã ban hành, có tình trạng không tổ chức hội nghị định kỳ; không phân công nhiệm vụ rõ ràng; không thông tin công khai trong nội bộ cấp ủy; cá nhân né tránh trách nhiệm.

Ba là, thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy chế làm việc, còn có tổ chức đảng chưa đưa nội dung thực hiện quy chế làm việc vào tiêu chí đánh giá cán bộ, tổ chức đảng hằng năm, dẫn đến việc thực hiện không nhất quán.

Bốn là, tình trạng dân chủ hình thức, tập trung quan liêu vẫn tồn tại, có nơi mang danh nghĩa tập thể để hợp thức hóa ý kiến cá nhân hoặc ngược lại, không phát huy được trí tuệ tập thể trong quá trình quyết định vấn đề quan trọng.

III. Giải pháp đảm bảo mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc

Việc đảm bảo sự thống nhất giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc của cấp ủy không chỉ mang ý nghĩa tổ chức, hành chính thuần túy, mà còn có giá trị giáo dục sâu sắc đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện đạo đức công vụ, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực lãnh đạo. Trên cơ sở đó, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ như sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc và quy chế làm việc.

Quán triệt sâu sắc các nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, nhất là trong sinh hoạt cấp ủy và sinh hoạt chi bộ. Các tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu phải luôn xem đây là nội dung cốt lõi để giữ gìn kỷ luật đảng, phát huy trách nhiệm, phòng ngừa sai phạm. Việc nâng cao nhận thức có ý nghĩa then chốt, tạo tiền đề để thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Thứ hai, xây dựng quy chế làm việc sát thực, rõ ràng, khoa học.

Quy chế phải do tập thể thảo luận, góp ý rộng rãi, ban hành dân chủ và công khai. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa tập thể và từng cá nhân, có cơ chế phối hợp, giám sát chặt chẽ. Một quy chế khoa học không chỉ giúp minh bạch hóa hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo mà còn định hướng các chuẩn mực hành vi công vụ, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên rèn luyện phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả.

Thứ ba, thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc đã ban hành.

Việc tuân thủ quy chế cần được xem là nội dung bắt buộc, có tính kỷ luật cao, không tùy tiện điều chỉnh. Coi việc vi phạm quy chế làm việc là biểu hiện của suy thoái ý thức tổ chức kỷ luật. O thực hiện nghiêm sẽ chuyển hóa quy chế từ một văn bản hành chính thành “văn hóa làm việc”, tạo thói quen kỷ cương, trách nhiệm, tôn trọng nguyên tắc trong mọi hoạt động của cấp ủy.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện quy chế.
Đưa nội dung thực hiện quy chế làm việc vào kiểm điểm, đánh giá cuối năm đối với tập thể và cá nhân. Đồng thời, phát huy vai trò của Ủy ban kiểm tra, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong phản biện, giám sát. Việc kiểm tra, giám sát thường xuyên không chỉ nhằm phát hiện sai phạm mà còn mang ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở và hoàn thiện tác phong lãnh đạo.

Thứ năm, gắn việc thực hiện quy chế với xây dựng văn hóa tổ chức đảng.
Đi đôi với phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu, xây dựng tác phong làm việc dân chủ, trách nhiệm, minh bạch, rõ người, rõ việc, rõ kết quả. Văn hóa tổ chức đảng được tạo lập từ những chuẩn mực kỷ luật và trách nhiệm cụ thể, trong đó quy chế làm việc vừa là cơ sở pháp lý vừa là công cụ giáo dục thường xuyên đối với cán bộ, đảng viên.

Như vậy, mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc của cấp ủy là mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng phương pháp luận, là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt. Quy chế làm việc là công cụ thể chế hóa và hiện thực hóa nguyên tắc ấy trong tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng. Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thì việc đảm bảo mối quan hệ này càng trở nên cấp thiết, nhất là ở cấp cơ sở – nơi trực tiếp triển khai nghị quyết vào đời sống.

Tăng cường nhận thức, xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc gắn với nguyên tắc tập trung dân chủ chính là một trong những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cấp ủy, tạo nền tảng vững chắc cho sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội.

IV. Ý nghĩa giáo dục và giá trị rèn luyện từ mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc

Mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc không chỉ là vấn đề mang tính tổ chức hành chính, mà còn chứa đựng ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc nhận thức đúng và thực hành đúng mối quan hệ này sẽ góp phần hình thành phẩm chất, năng lực, tư duy và phong cách lãnh đạo chuẩn mực theo yêu cầu mới.

Thứ nhất, góp phần giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, đảng viên.
Nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc chính là môi trường để cán bộ, đảng viên rèn luyện tính kỷ luật, tính nguyên tắc, tác phong khoa học, thái độ nghiêm túc trong công việc. Khi quy chế làm việc được thực hiện nghiêm, mỗi cá nhân buộc phải tuân thủ các giới hạn pháp lý, tổ chức, từ đó nâng cao trách nhiệm và ý thức tự giác.

Thứ hai, định hướng phát triển phong cách lãnh đạo dân chủ, khoa học, minh bạch.
Việc quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ và vận hành theo quy chế làm việc giúp cán bộ lãnh đạo thực hành dân chủ thực chất: biết lắng nghe, biết tôn trọng tập thể, biết phát huy trí tuệ chung và tránh biểu hiện độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời, quy chế làm việc tạo khuôn khổ để lãnh đạo ra quyết định đúng quy trình, nâng cao hiệu quả quản trị, hình thành phong cách làm việc chuẩn mực, rõ ràng, công khai.

Thứ ba, tạo môi trường giáo dục phẩm chất chính trị và đạo đức công vụ.
Các quy định về trách nhiệm, thẩm quyền, mối quan hệ công tác là những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ trong hệ thống chính trị. Việc tuân thủ quy chế đồng nghĩa với việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, tác phong công tác, thái độ phục vụ nhân dân, từ đó góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất trong sáng, có ý thức phục vụ cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, góp phần xây dựng văn hóa tổ chức đảng lành mạnh

 Văn hóa tổ chức được hình thành từ thói quen tôn trọng nguyên tắc, tôn trọng quy trình, tôn trọng kỷ luật và tôn trọng tập thể. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc được thực hiện nghiêm, văn hóa dân chủ, kỷ luật sẽ lan tỏa trong toàn bộ tổ chức, thúc đẩy tinh thần đoàn kết, thống nhất, tạo nền tảng tinh thần, đạo đức cho mọi hoạt động lãnh đạo.

Thứ năm, định hướng phát triển năng lực lãnh đạo, điều hành cho cán bộ các cấp.
Việc vận hành đúng quy chế giúp cán bộ có cơ hội rèn luyện kỹ năng quản lý, điều hành, kỹ năng phối hợp, kỹ năng xử lý tình huống và tư duy hệ thống. Đây là những năng lực cốt lõi của người lãnh đạo trong giai đoạn đổi mới, cải cách hành chính và chuyển đổi số hiện nay. Mối quan hệ giữa nguyên tắc và quy chế vì thế trở thành môi trường “tự rèn luyện” tự nhiên, thường xuyên, liên tục cho đội ngũ cán bộ.

V. Kết luận

Mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc của cấp ủy là mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời. Đây không chỉ là vấn đề tổ chức, phương pháp, mà còn là nền tảng giáo dục toàn diện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt mối quan hệ này vừa giúp tăng cường năng lực lãnh đạo, quản trị của cấp ủy, vừa xây dựng môi trường làm việc dân chủ, kỷ luật, minh bạch, những giá trị cốt lõi trong quá trình đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Chấp hành Trung ương. (2021). Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XIII). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
  2. Bộ Chính trị. (2021). Quy định số 24-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng.
  3. Bộ Chính trị. (2021). Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Văn phòng Trung ương Đảng.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I, II). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
  5. Nguyễn, P. V. (2018). Nguyên tắc tập trung dân chủ và việc vận dụng trong xây dựng Đảng hiện nay. Tạp chí Xây dựng Đảng, 6, 45–50.

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH  CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự và đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ khoá: Tiềm lực khoa học quân sự; công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).