MÔ HÌNH NHÀ TRƯỜNG THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH TRONG THỜI KỲ MỚI
Lê quang Phước
Học viên, Hệ 5, Học viện Chính trị
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, giáo dục - đào tạo quân sự đứng trước cả thời cơ và thách thức. Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kế hoạch quan trọng, khẳng định chuyển đổi số và xây dựng mô hình nhà trường thông minh là yêu cầu cấp thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay. Thực tiễn cho thấy, hệ thống học viện, nhà trường quân đội không chỉ là nơi đào tạo sĩ quan, cán bộ kỹ thuật mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo, góp phần trực tiếp vào sức mạnh chiến đấu. Trong bối cảnh mới, xây dựng nhà trường thông minh không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là đòi hỏi khách quan nhằm bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực làm chủ vũ khí, trang bị công nghệ cao và thích ứng linh hoạt với môi trường tác chiến hiện đại.
Từ khóa: Mô hình nhà trường thông minh, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh
1. Đặt vấn đề
Đầu tiên nói chúng ta bàn về chuyển đổi số là cơ sở, là nền tảng cho bước đột phá, phát triển về giáo dục – đào tạo của nền giáo dục nước ta trong bối cảnh hiện nay, vị trí vai trò của CĐS và CĐS trong giáo dục – đào tạo.
CĐS có vai trò hết sức quan trọng, là tổng thể công nghệ số hóa dữ liệu và ứng dụng dữ liệu dựa trên nền tảng kỹ thuật số. Công nghệ ở đây được hiểu là một hệ thống, trong đó có trang thiết bị kỹ thuật số, có các chương trình kỹ thuật số, có dữ liệu đầu vào ở dạng số, có con người, có phương thức tổ chức hoạt động… liên kết, tác động qua lại lẫn nhau và cho kết quả đầu ra những sản phẩm có hiệu suất lớn về giá trị sản xuất.
Về vị trí, có thể thấy CĐS là nội dung cơ bản trong trụ cột kỹ thuật số và đóng vai trò rất quan trọng trong Cuộc CMCN 4.0. Hiện nay, khái niệm CĐS đã trở nên phổ biến, lan tỏa trên toàn xã hội. Trong đó, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước là những tổ chức tiên phong, xem CĐS là xu thế bắt buộc, tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh và thực hiện thành công chiến lược xây dựng chính quyền số, nền kinh tế số, xã hội thông minh trong thời kỳ CMCN 4.0. CĐS đối với doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước giúp xây dựng nên những CSDL từ giá trị thực (biến đổi giá trị nghe, nhìn, cảm nhận được từ thế giới thực) sang dạng số (dạng điện toán được lưu trữ trên máy tính) nên rất thuận lợi cho việc quản lý, khai thác sử dụng. Dữ liệu số hóa đã trở thành tài sản của các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước. Dữ liệu ngành càng được bổ sung, liên kết, tích hợp với nhau đã giảm được nhiều kinh phí xây dựng dữ liệu đơn lẻ, không đồng bộ như trước đây. CĐS giúp doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước không những giải quyết công việc hiện tại hiệu quả mà quan trọng hơn là hoạch định được tầm nhìn chiến lược để thực hiện Cuộc CMCN 4.0 có kết quả tốt nhất. Thay đổi phương thức quản lý của các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng đơn giản về cơ cấu, logic, kế thừa và hiệu quả về hoạt động, hội nhập với quốc tế. Tạo ra những thay đổi lớn trong chuỗi giá trị hàng hóa và cung ứng sản phẩm; tự động hóa nâng cao hiệu suất công việc, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh, gia tăng mạnh mẽ giá trị sản xuất, chất lượng dịch vụ công, nâng cao chất lượng sản phẩm.
CĐS trong lĩnh vực GDĐT sẽ hỗ trợ đổi mới GDĐT theo hướng giảm thuyết giảng, truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời. Sự bùng nổ của nền tảng công nghệ IoT, Big Data, AI, SMAC (mạng xã hội - di động - phân tích dữ liệu lớn - điện toán đám mây) đang hình thành nên hạ tầng giáo dục số. Theo đó, nhiều mô hình giáo dục thông minh đang được phát triển trên nền tảng ứng dụng CNTT; hỗ trợ đắc lực việc cá nhân hóa học tập (mỗi người học một giáo trình và một phương pháp học tập riêng không giống với người khác, việc này do các hệ thống CNTT thực hiện tự động); làm cho việc truy cập kho kiến thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh chóng, dễ dàng; giúp việc tương tác giữa gia đình, nhà trường, giáo viên, học sinh, sinh viên gần như trực tiếp, tức thời.
Lợi ích CĐS mang tới nền giáo dục của Việt Nam là chủ động trong công việc học tập. Công nghệ số đã mở ra một không gian học tập thoải mái nhất thông qua mạng Internet, chúng ta có thể học tập mọi lúc, mọi nơi theo nhu cầu của bản thân mình. Giờ đây, người học có thể tiếp thu kiến thức một cách thuận tiện và dễ dàng trên mọi thiết bị (máy tính, laptop, smartphone...). Điều này đã mở ra một nền giáo dục mở hoàn toàn mới. Một ưu điểm của nền giáo dục công nghệ số là mang tới không gian học tập lý tưởng, phù hợp với mọi đối tượng. Đó có thể là ở nhà, quán cà phê… hay bất kỳ nơi nào mang tới cho chúng ta tâm trạng tốt, cảm giác thoải mái nhất. Với một tâm trạng tốt thì kết quả học tập hiển nhiên sẽ được cải thiện, nâng cao hơn. Nó loại bỏ hoàn toàn những giới hạn về khoảng cách, tối ưu thời gian học và nâng cao nhận thức, tư duy của người học. Truy cập tài liệu học tập không giới hạn với kho học liệu trực tuyến khổng lồ, người dùng có thể truy cập vào các tài nguyên học tập một cách dễ dàng và ít tốn kém hơn. Mặt khác CĐS cũng giúp người học có thể khai thác học liệu nhanh chóng bằng các thiết bị trực tuyến mà không bị giới hạn bất kể tình trạng kinh tế của họ. Điều đó có nghĩa, sử dụng công nghệ giúp việc chia sẻ tài liệu, giáo trình giữa học sinh và giáo viên trở nên dễ dàng và tiết kiệm hơn do giảm thiểu được các chi phí về in ấn.
CĐS giúp gia tăng tính tương tác và trải nghiệm thực tế cho người học thông qua phương pháp học face to face với giáo viên hướng dẫn mà không bị giới hạn bởi không gian. Ngoài ra, việc ứng dụng thực tế ảo (VR-virtual reality), thực tế tăng cường (AR-Augmented Reality) cũng tạo ra những trải nghiệm thực tế “thật” hơn, giúp người học có những trải nghiệm đa giác quan, tạo cảm giác tò mò, hứng thú hơn khi học tập. CĐS mở ra một không gian tương tác thuận lợi và dễ dàng giúp mỗi người học có thể cùng trao đổi với các học viên khác, hay tham khảo những thông tin từ phía giáo viên một cách tiện lợi… Mọi vấn đề mà chúng ta thắc mắc hay việc học tập kết hợp nhóm khi cần đều diễn ra thuận lợi và đạt kết quả lý tưởng như mong đợi.
CĐS ngành giáo dục đã tạo ra kỷ nguyên mới, thời đại mà người dạy và người học được trao quyền để sử dụng công nghệ. Các thành tựu công nghệ như Big Data giúp lưu trữ mọi kiến thức lên không gian mạng, IoT (Internet of Things) giúp theo dõi hành vi và quản lý, giám sát người học hay Blockchain giúp xây dựng hệ thống quản lý thông minh và hồ sơ giáo dục của sinh viên cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu từ nhiều trường học, ghi chép lại lịch sử học tập, bảng điểm của học sinh để đảm bảo thông tin dữ liệu được đồng nhất, minh bạch.
Khả năng tiết kiệm chi phí học tập là một lợi ích lớn, thiết thực mà công nghệ số mang lại. Khi thấy được những giá trị mà phương pháp học tập này mang lại chắc chắn sẽ giúp mỗi người cảm thấy hài lòng với kết quả mà mình nhận được. Chính những điều đó giúp quá trình học tập của bản thân diễn ra suôn sẻ, không có những ảnh hưởng nào.
CĐS cũng tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho người học, thay vì đến các trường công, học viên có thể tham gia vào các khóa học E-Learning với chi phí rẻ hơn nhiều lần. Thậm chí người học còn có thể tùy chọn những khóa học phù hợp với bản thân và những môn mà bản thân người học thực sự quan tâm, điều này giúp cho việc học tập hiệu quả và chất lượng hơn.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tính tất yếu xây dựng nhà trường quân đội thông minh
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và xu thế chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có quốc phòng và giáo dục – đào tạo quân sự. Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình quan trọng, như Nghị quyết số 52-NQ/TW (2019) và Quyết định số 749/QĐ-TTg (2020) về chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quốc gia”, mới đây nhất là Nghị quyết số 71- NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của BCH Trung Ương về “ Đột phá, phát triển giáo dục đào tạo” cũng đã đề cập tới nội dung về chuyển đổi số trong 8 nhiệm vụ giải pháp được thể hiện trong Nghị quyết. Trong quân đội, Quân ủy Trung ương xác định đây là đột phá chiến lược, nổi bật là Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW (2025) về phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng mô hình nhà trường thông minh. Bên cạnh đó ngày 01 tháng 8 năm 2025 Bộ Tổng Tham mưu cũng đã ban hành quyết định số 1960/QĐ - TM về “ Ban hành Bộ Tiêu chí Nhà trường Quân đội thông minh”.
Lịch sử phát triển của quân đội ta cho thấy, hệ thống học viện, nhà trường luôn giữ vai trò then chốt trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sĩ quan, nhân tố trực tiếp quyết định sức mạnh chiến đấu. Trong bối cảnh mới, với yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, việc xây dựng nhà trường thông minh không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là đòi hỏi khách quan, cấp bách nhằm bảo đảm nguồn nhân lực có trình độ, đủ khả năng làm chủ vũ khí, trang bị và thích ứng với môi trường tác chiến công nghệ cao. Thực tiễn bước đầu cho thấy nhiều nhà trường quân đội đã triển khai chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy và huấn luyện; song nhìn chung vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa đủ chiều sâu. So với kinh nghiệm quốc tế, chúng ta đứng trước cả cơ hội và thách thức, đòi hỏi phải có cách tiếp cận khoa học, lộ trình phù hợp và giải pháp khả thi.
2.2. Nhà trường thông minh trong bối cảnh CĐS và yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh
Trong mọi giai đoạn lịch sử, yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định đến sức mạnh quân đội. Chất lượng đội ngũ cán bộ, sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật phản ánh trực tiếp hiệu quả huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang. Vì vậy, giáo dục - đào tạo được coi là “khâu mở đầu” để xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các lý thuyết giáo dục hiện đại đều hướng tới mô hình trường học thông minh, với đặc trưng: Ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quản lý và dạy học; xây dựng môi trường học tập mở, linh hoạt, cá nhân hóa; gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Khi vận dụng vào quân đội, mô hình này mang tính đặc thù: đào tạo cán bộ quân sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, đồng thời thành thạo kỹ năng công nghệ, đủ sức làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại và thích ứng với môi trường tác chiến công nghệ cao.
2.3. Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham chiếu đối với Việt Nam
Trong chiến lược phát triển quân đội hiện đại, nhiều quốc gia đã đi trước trong việc xây dựng hệ thống đào tạo quân sự thông minh. Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc và NATO cho thấy, bản chất của sự đổi mới không chỉ là áp dụng công nghệ, mà là thay đổi cách thức tổ chức, quản trị và định hướng đào tạo, qua đó bảo đảm chất lượng nhân lực quân sự trong môi trường chiến tranh công nghệ cao.
Hoa Kỳ coi Professional Military Education (PME) là công cụ chiến lược để hình thành “bộ não chung” cho toàn quân. Ở đây, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn không chỉ hỗ trợ quá trình học tập mà còn rèn luyện khả năng phân tích, phán đoán, ra quyết định trong tình huống chiến đấu thực tế. Như Adam T. Biggs nhận xét: “… Khi các công nghệ trí tuệ nhân tạo tiếp tục phát triển, chúng mang lại những cơ hội mới để nâng cao kết quả học tập, cải thiện hiệu quả giáo dục và hỗ trợ phát triển các kỹ năng then chốt cho đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp”[3, tr.22]. Điều này cho thấy Mỹ không chỉ đào tạo con người biết sử dụng công nghệ, mà còn xây dựng năng lực tư duy chiến lược dựa trên công nghệ - một định hướng rất đáng tham khảo cho Việt Nam.
Nga đang cải tổ toàn diện hệ thống giáo dục quân sự, đặc biệt sau những thách thức từ xung đột Ukraine. Trọng tâm của họ là đào tạo sĩ quan có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các học viện quân sự và trường đại học dân sự. Theo một báo cáo: “Bộ Quốc phòng đang tái cấu trúc các học viện quân sự, tích hợp chuyên môn dân sự trong lĩnh vực công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo để đào tạo sĩ quan phục vụ cho các cuộc xung đột trong tương lai”[7]. Điều này cho thấy Nga hướng đến một mô hình đào tạo liên ngành, vừa giữ vững đặc thù quân sự, vừa tận dụng nguồn lực khoa học – công nghệ dân sự, một cách tiếp cận có giá trị tham khảo trong bối cảnh Việt Nam cũng đang thúc đẩy kết nối quân - dân trong đổi mới sáng tạo.
Trung Quốc lại đặt trọng tâm vào quá trình “intelligentization” thông minh hóa quân đội, trong đó giáo dục quân sự đóng vai trò trung tâm. Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đang cải cách đào tạo sau đại học quân sự, gắn nghiên cứu khoa học với huấn luyện chiến đấu, hướng tới đào tạo cán bộ có khả năng làm chủ công nghệ cao và phát triển học thuyết quân sự mới. Theo nghiên cứu của học giả Cindy Hurst: “Trung Quốc đang điều chỉnh hệ thống đào tạo sau đại học quân sự để làm cho lực lượng vũ trang trở nên ‘thông minh hơn’, bao gồm nuôi dưỡng những nhân tài công nghệ cao…”[4]. Chiến lược này cho thấy sự đầu tư mạnh mẽ để hình thành đội ngũ sĩ quan vừa là nhà nghiên cứu, vừa là nhà thực hành công nghệ, điều mà Việt Nam có thể học hỏi khi thúc đẩy các chương trình cao học quân sự gắn với nghiên cứu khoa học công nghệ quốc phòng.
Khối NATO nổi bật ở khía cạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo quân sự. Thông qua Chương trình DEEP (Defence Education Enhancement Programme), NATO không chỉ chia sẻ chuẩn mực mà còn hỗ trợ trực tiếp các quốc gia trong phát triển giáo dục quân sự hiện đại. Đặc biệt, Chiến lược hỗ trợ đào tạo từ xa (2021) đã hệ thống hóa những thực tiễn tốt nhất của các nước Đồng minh và Đối tác thành một chiến lược chung, tập trung vào năm lĩnh vực: quản trị nhà trường, phát triển chương trình, bồi dưỡng giảng viên, công nghệ lớp học từ xa và đào tạo tiếng Anh. Đây là một cách tiếp cận có tính chiến lược, nhấn mạnh vai trò của hợp tác, chia sẻ, chuẩn hóa trong giáo dục quân sự, gợi mở cho Việt Nam hướng tiếp cận đa phương khi xây dựng mô hình nhà trường thông minh.
Bốn kinh nghiệm trên tuy khác nhau về bối cảnh, nhưng đều thống nhất ở một điểm: giáo dục quân sự trong môi trường đào tạo thông minh không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là sự tái cấu trúc chiến lược đào tạo. Hoa Kỳ chú trọng phát triển tư duy chiến lược qua AI; Nga kết hợp nguồn lực quân - dân; Trung Quốc gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học; NATO phát huy sức mạnh hợp tác đa phương. Đây là những định hướng có giá trị tham chiếu trực tiếp cho Việt Nam trong quá trình xây dựng mô hình nhà trường thông minh, góp phần vào mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh.
2.4. Giải pháp trọng tâm xây dựng nhà trường quân đội thông minh đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh
Một là, nâng cao nhận thức và quyết tâm chính trị trong toàn hệ thống nhà trường quân sự. Xây dựng nhà trường thông minh không đơn thuần là đổi mới phương tiện hay công nghệ giảng dạy, mà là một bước chuyển mang tính chiến lược, tác động trực tiếp đến chất lượng xây dựng quân đội. Vì vậy, các cấp lãnh đạo, chỉ huy phải xác định đây là yêu cầu tất yếu, là một trong những “đột phá chiến lược” trong đổi mới giáo dục - đào tạo của quân đội. Muốn vậy, cần có sự vào cuộc đồng bộ từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến từng học viện, trường sĩ quan, trường chuyên ngành, thông qua ban hành nghị quyết chuyên đề, kế hoạch hành động, chỉ tiêu cụ thể. Đặc biệt, cần tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ, giảng viên, học viên về vai trò và ý nghĩa của mô hình nhà trường thông minh, tránh tình trạng triển khai hình thức, chạy theo phong trào. Khi nhận thức đã đầy đủ, quyết tâm chính trị đã được nâng cao, thì mới có thể huy động được nguồn lực, tạo động lực nội sinh để đưa chủ trương này đi vào thực chất.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, bảo đảm an toàn và thích ứng lâu dài. Hạ tầng số là “xương sống” của nhà trường thông minh, không chỉ dừng ở việc trang bị máy tính hay mạng Internet, mà phải hướng tới hình thành một hệ sinh thái số quân sự. Trong đó, trọng tâm là xây dựng các trung tâm điều hành số tích hợp dữ liệu quản lý, đào tạo và huấn luyện; triển khai hệ thống mạng quân sự tốc độ cao, độc lập, an toàn, bảo mật; xây dựng thư viện điện tử, cơ sở học liệu số liên thông giữa các nhà trường; đồng thời phát triển các nền tảng học tập trực tuyến, phòng học mô phỏng, chiến trường ảo, hệ thống wargaming. Việc đầu tư hạ tầng cần có trọng tâm, trọng điểm, theo lộ trình ưu tiên cho các học viện, nhà trường then chốt, sau đó mở rộng ra toàn quân. Hạ tầng số phải được thiết kế theo chuẩn mở, có khả năng tích hợp công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật quân sự (IoMT), bảo đảm tính linh hoạt, thích ứng lâu dài.
Ba là, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo theo hướng kết hợp truyền thống với hiện đại. Đây là một giải pháp cốt lõi, bởi công nghệ chỉ có ý nghĩa khi được gắn liền với triết lý giáo dục và phương pháp đào tạo đúng đắn. Các học viện, nhà trường cần đẩy mạnh số hóa giáo trình, xây dựng kho học liệu điện tử phong phú, có khả năng tương tác và cập nhật thường xuyên. Song song, cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ cá nhân hóa việc học, theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả của từng học viên, từ đó thiết kế lộ trình học tập phù hợp với năng lực và sở trường. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ “truyền thụ một chiều” sang “tương tác hai chiều”, phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của người học. Cần phát triển mạnh các phương thức huấn luyện mới như mô phỏng chiến trường, trò chơi chiến tranh, thực tế ảo (VR/AR), giúp học viên rèn luyện kỹ năng ra quyết định trong môi trường gần giống thực tiễn chiến đấu. Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là phủ nhận truyền thống. Cần kết hợp chặt chẽ phương pháp hiện đại với những giá trị cốt lõi của giáo dục quân sự, như kỷ luật, bản lĩnh chính trị, tinh thần đồng đội, để đào tạo ra những sĩ quan vừa có tri thức công nghệ cao, vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức vững vàng.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực số, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và học viên quân sự. Không có nhân lực phù hợp thì hạ tầng và chương trình hiện đại cũng khó vận hành hiệu quả. Do đó, cần có chính sách tuyển chọn, đào tạo và đãi ngộ đặc biệt để xây dựng đội ngũ giảng viên nòng cốt về công nghệ số trong quân đội. Giảng viên cần được bồi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, an ninh mạng; đồng thời nâng cao trình độ ngoại ngữ để tiếp cận tri thức mới và tham gia các chương trình hợp tác quốc tế. Cán bộ quản lý giáo dục phải có tư duy đổi mới, am hiểu công nghệ, có khả năng điều hành hệ thống đào tạo số hóa. Với học viên, nhà trường cần rèn luyện tư duy phản biện, sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ cao trong nghiên cứu và tác chiến. Song song, cần tạo điều kiện để học viên được tham gia các hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học, kết nối với doanh nghiệp công nghệ quốc phòng, qua đó hình thành thế hệ sĩ quan “kép”: vừa vững chính trị, giỏi quân sự, vừa tinh thông công nghệ.
Năm là, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và mở rộng hợp tác trong – ngoài quân đội để phát triển bền vững mô hình nhà trường thông minh. Trong môi trường số, dữ liệu huấn luyện và giáo dục là tài sản chiến lược, do đó luôn tiềm ẩn nguy cơ bị xâm nhập, phá hoại. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống bảo mật nhiều tầng, kết hợp công nghệ mã hóa tiên tiến với quản lý vận hành chặt chẽ. Phải gắn kết chặt chẽ với các lực lượng chuyên trách về tác chiến không gian mạng, đặc biệt là Bộ Tư lệnh 86, để hình thành “lá chắn số” cho hệ thống nhà trường quân sự. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các doanh nghiệp quốc phòng – an ninh trong nghiên cứu, phát triển và cung cấp giải pháp công nghệ, bảo đảm tính tự chủ, an toàn, không lệ thuộc bên ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế có chọn lọc vẫn là hướng đi cần thiết, nhằm học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ mới, nhất là trong các lĩnh vực mô phỏng, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng. Sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ chủ quyền số và tranh thủ thành tựu quốc tế sẽ giúp mô hình nhà trường thông minh phát triển thực chất, bền vững, góp phần trực tiếp vào mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh.
3. Kết luận
Xây dựng nhà trường quân đội thông minh là xu thế tất yếu, đồng thời là yêu cầu cấp bách nhằm bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh. Trên cơ sở quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, việc phát triển mô hình nhà trường thông minh không chỉ dừng ở đổi mới phương tiện giảng dạy, mà là sự chuyển biến toàn diện về tư duy, tổ chức và phương pháp giáo dục quân sự. Thực tiễn quốc tế cũng chỉ ra rằng, thành công chỉ đến khi có sự kết hợp đồng bộ giữa quyết tâm chính trị, hạ tầng số hiện đại, chương trình đào tạo tiên tiến, đội ngũ nhân lực số chất lượng cao và hệ thống bảo mật, an ninh mạng vững chắc. Với giải pháp đồng bộ, lộ trình phù hợp và sự vào cuộc của toàn quân, các nhà trường quân đội Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành “trung tâm thông minh”, nơi đào tạo đội ngũ sĩ quan vừa có bản lĩnh chính trị kiên định, vừa làm chủ công nghệ hiện đại, góp phần quyết định vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội.
2. Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hà Nội.
3. Biggs, A. T. (2025). Enhancing professional military education with AI. Journal of Military Learning. U.S. Army Command and General Staff College, 22/4/2025, tr. 22
4. Hurst, C. (2022). China to reform military postgraduate education. OEWatch. U.S. Army Training and Doctrine Command, 1-7-2022.
5. NATO. (2021). NATO DEEP strategy for distance learning support is launched. NATO Defence Education Enhancement Programme. Brussels. Retrieved from https://deepportal.hq.nato.int/eacademy/deep/nato-deep-strategy-for-distance-learning-support-is-launched
6. Quân ủy Trung ương. (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW về đột phá phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quân đội. Hà Nội.
7. United24 Media. (2025). Russia overhauls military education system to train for future conflicts. Kyiv. Retrieved from https://united24media.com/latest-news/russia-overhauls-military-education-system-to-train-for-future-conflicts-9711