1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

KHÔNG ĐỂ “LỬA ĐỘC” BÉN VÀO MÁI NHÀ HẬU PHƯƠNG QUÂN ĐỘI

01:39 | 28/04/2026
aA

Lê Minh Tình - Phó Chính ủy eBB335/f324/QK4

Phan Công Hùng - Phó Chủ nhiệm Chính trị eBB335/f324/QK4

Lê Quang Phước – Hệ 5/ Học viện Chính trị

Email:[email protected]

 

Tóm tắt: Hậu phương quân đội là tổng thể nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội, con người và tinh thần của xã hội, giữ vai trò nuôi dưỡng, bảo đảm và trực tiếp cấu thành sức mạnh của quân đội. Đây không chỉ là “phía sau” về địa lý mà còn là không gian niềm tin của quân đội. Trong bối cảnh chiến tranh thông tin và không gian mạng phát triển, các thế lực thù địch gia ong chống phá, coi tấn công vào hậu phương quân đội là mũi đột phá nhằm làm xói mòn niềm tin, chia rẽ quan hệ quân dân và làm suy yếu thế trận ong dân. Thực tiễn đó đòi hỏi không để “lửa độc” bén vào “mái nhà hậu phương quân đội”, qua đó giữ vững nền tảng niềm tin và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ khóa: Hậu phương Quân đội; thế trận lòng dân; phòng, chống các thế lực thù địch; bảo vệ Tổ quốc.

 

1. Mở đầu

Suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, hậu phương quân đội không chỉ được hiểu là “phía sau” về mặt địa lý hay gắn với thân nhân người lính, mà là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, con người và tinh thần của đất nước. Đó là không gian tích tụ và lan tỏa niềm tin, là nền tảng trực tiếp nuôi dưỡng, bảo đảm và cấu thành sức mạnh tổng hợp của quân đội.

Sự vững chắc của hậu phương quân đội vì thế được biểu hiện toàn diện ở tiềm lực kinh tế quốc gia, hệ thống chính sách, mức độ ổn định xã hội, chất lượng nguồn nhân lực, cũng như sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội.

Trong bối cảnh hiện nay, khi không gian mạng tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán thông tin sai trái, xuyên tạc và kích động. Những thông tin xấu độc đó như “lửa độc”, không chỉ lan truyền trong không gian số mà còn thẩm thấu vào nhận thức xã hội, tác động đến niềm tin, thái độ và tình cảm của nhân dân - tức là tác động trực tiếp đến nền tảng của hậu phương quân đội.

Nếu không được nhận diện và ngăn chặn kịp thời, “lửa độc” có thể bén vào “mái nhà hậu phương quân đội”, làm suy giảm sự đồng thuận xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng tinh thần và mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Vì vậy, giữ vững hậu phương quân đội thực chất là giữ vững nền tảng niềm tin xã hội và thế trận lòng dân, qua đó bảo đảm điều kiện chính trị - tinh thần cho Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Hậu phương quân đội là nhân tố nền tảng của sức mạnh Quân đội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước, là tổ chức đặc biệt của nhà nước. Nguồn gốc sâu xa của quân đội bắt nguồn từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trực tiếp là sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp trong xã hội. Về bản chất, quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp và nhà nước đã sinh ra nó. Vì vậy, quân đội không bao giờ là lực lượng “phi chính trị” hay đứng ngoài xã hội; sức mạnh của quân đội luôn gắn chặt với sức mạnh của chế độ, của quần chúng nhân dân và toàn bộ nền tảng xã hội đã nuôi dưỡng nó.

Trên nền tảng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định rõ bản chất nhân dân của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu…” [5, tr.264]. Điều đó cho thấy quân đội không chỉ bắt nguồn từ Nhân dân mà còn tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với Nhân dân. Trong hệ thống tư tưởng của Người, hậu phương quân đội giữ vị trí đặc biệt quan trọng, gắn liền với quan điểm “lấy dân làm gốc”. Xét đến cùng, hậu phương quân đội chính là sự biểu hiện tập trung của thế trận lòng dân, là không gian hội tụ niềm tin xã hội và trực tiếp bồi đắp sức mạnh tinh thần cho quân đội.

Từ cách tiếp cận đó, hậu phương quân đội không phải là “phía sau” thuần túy về địa lý hay chỉ giới hạn trong phạm vi thân nhân quân nhân, mà là một chỉnh thể bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, con người và tinh thần của xã hội, giữ vai trò nuôi dưỡng, bảo đảm và trực tiếp cấu thành sức mạnh của quân đội trong mọi điều kiện. Đây chính là cơ sở xã hội trực tiếp của sức mạnh quân sự.

Vai trò của hậu phương quân đội trước hết thể hiện ở việc tạo dựng nền tảng tinh thần - chính trị cho quân nhân. Trạng thái ổn định về xã hội, hệ thống chính sách đầy đủ, sự bảo đảm các quyền lợi chính đáng và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội là những yếu tố trực tiếp chi phối bản lĩnh, ý chí và mức độ sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội. Khi nền tảng đó được củng cố, sức mạnh tinh thần của quân đội được tăng cường một cách bền vững.

Ở phạm vi rộng hơn, hậu phương quân đội là bộ phận cấu thành của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đó là không gian quy tụ và huy động các nguồn lực về kinh tế, chính trị, khoa học - công nghệ, văn hóa và con người để bảo đảm cho quân đội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, hậu phương quân đội là biểu hiện tập trung của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội với Nhân dân; việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với người có công không chỉ mang ý nghĩa bảo đảm chế độ, mà còn là sự hiện thực hóa các giá trị đạo lý xã hội, qua đó củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Thực tiễn cho thấy hậu phương quân đội và chính sách người có công luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chăm lo thường xuyên. Tính đến tháng 7 năm 2024, cả nước có hơn 9,2 triệu người có công với cách mạng, trong đó có gần 1,2 triệu liệt sĩ, gần 500 nghìn thân nhân liệt sĩ, khoảng 140 nghìn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gần 600 nghìn thương binh và người hưởng chính sách như thương binh [1]. Đến cuối năm 2025, cả nước có 52 trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công; riêng giai đoạn 2022 đến 2024 đã tổ chức điều dưỡng cho hơn 1,1 triệu lượt người với tổng kinh phí trên 2 nghìn tỷ đồng. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước đặt mục tiêu hỗ trợ khoảng 200.000 căn nhà cho người có công, khoảng 88.000 căn cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời xóa 153.881 căn nhà tạm, với tổng nguồn lực huy động gần 6.000 tỷ đồng [7], qua đó thể hiện quy mô huy động nguồn lực xã hội rất lớn. Những kết quả đó không chỉ phản ánh quy mô và chiều sâu của chính sách hậu phương quân đội, mà còn là bằng chứng sinh động khẳng định nền tảng xã hội vững chắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các bộ, ban, ngành về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách,

chế độ đối với người có công với cách mạng; công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Nguồn ảnh Đăng Khoa, Báo Quảng Ninh điện tử.

Trong cả thời bình và thời chiến, hậu phương quân đội luôn giữ vai trò quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, sự phụ thuộc của tiền tuyến vào hậu phương ngày càng gia tăng, không chỉ về vật chất mà còn về thông tin, công nghệ và đặc biệt là nền tảng tinh thần - xã hội. Điều đó cho thấy mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá hậu phương quân đội thực chất là nhằm vào nền tảng sức mạnh của quân đội.

Hiện nay, hậu phương quân đội gắn trực tiếp với thế trận lòng dân. Việc củng cố hậu phương quân đội đồng nghĩa với việc củng cố niềm tin xã hội, giữ vững ổn định chính trị và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa quân đội với Nhân dân, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên thành nguồn lực chiến lược và “thế trận lòng dân” bền vững

Nếu Đại hội XIII khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, thì Đại hội XIV phát triển thêm một bước quan trọng khi gắn đại đoàn kết với phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đại đoàn kết không chỉ được nhìn nhận như một giá trị truyền thống hay một yêu cầu chính trị – xã hội, mà được nâng lên thành nguồn lực chiến lược quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia, gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và biến động toàn cầu.

So với Đại hội XIII, quan điểm này thể hiện bước phát triển rõ rệt khi đặt đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư duy an ninh – phát triển tổng thể, coi “lòng dân” là nền tảng bền vững nhất của ổn định chính trị và phát triển lâu dài.

Như vậy, hậu phương quân đội không chỉ là điểm tựa phía sau, mà là nền tảng chính trị - xã hội trực tiếp cấu thành sức mạnh của quân đội. Mọi sự chống phá nhằm vào hậu phương quân đội, xét đến cùng, đều nhằm làm suy yếu nền tảng sức mạnh đó và phá vỡ thế trận lòng dân của đất nước.

2.2. “Lửa độc” bén vào hậu phương Quân đội

Quan điểm nhất quán của Đảng ta xác định hậu phương quân đội là bộ phận quan trọng của nền quốc phòng toàn dân, gắn chặt với thế trận lòng dân và sức mạnh tổng hợp của đất nước. Yêu cầu “thực hiện tốt chính sách đối với lực lượng vũ trang và chính sách hậu phương quân đội” [4. Tr.116], được đặt như một nội dung thiết yếu trong xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc, hậu phương quân đội luôn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khu vực phòng thủ và hình thành hậu phương chiến lược vững chắc.

Từ vị trí đó có thể khẳng định: hậu phương quân đội không chỉ là vấn đề chính sách xã hội, mà là một cấu phần có ý nghĩa chiến lược, trực tiếp tạo nền tảng cho sức mạnh của Quân đội và thế trận lòng dân. Chính vì vậy, đây trở thành một hướng tiến công trọng điểm của các thế lực thù địch; bởi tấn công vào hậu phương quân đội thực chất là tấn công vào niềm tin xã hội, vào mối quan hệ quân - dân và vào nền tảng chính trị - tinh thần của Quân đội.

“Lửa độc” trong bối cảnh hiện nay không phải là những thông tin sai lệch đơn lẻ, mà là sản phẩm của hoạt động định hướng, thao túng và dẫn dắt thông tin có chủ đích. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng không gian mạng để tổ chức sản xuất, khuếch tán và lặp lại thông tin sai trái theo quy trình có tính toán, nhằm từng bước tác động vào nhận thức, cảm xúc và niềm tin xã hội, từ đó làm xói mòn nền tảng tư tưởng của Đảng và sự gắn bó giữa quân đội với Nhân dân.

Thông qua các tổ chức và kênh truyền thông phản động như Việt Tân, Chân Trời Mới Media, cùng một số nền tảng truyền thông nước ngoài như BBC News Tiếng Việt, RFA, RFI và các cá nhân chống đối như Nguyễn Văn Đài…, chúng tổ chức sản xuất, khuếch tán và lan truyền thông tin sai lệch với mục tiêu xuyên tạc, phủ nhận và làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng.

Về bản chất, những thủ đoạn xuyên tạc, kích động phá hoại hậu phương quân đội là một bộ phận quan trọng trong chiến lược chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chúng tập trung công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cổ xúy các luận điệu như “phi chính trị hóa quân đội”, “quân đội trung lập”, từ đó thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, làm suy giảm phương hướng chính trị, tiến tới làm biến đổi lập trường, bản chất giai cấp và sức chiến đấu của Quân đội từ bên trong. Khi nhắm vào hậu phương quân đội, chúng không chỉ tác động vào một chính sách hay một nhóm đối tượng cụ thể, mà nhằm trực tiếp vào nền tảng chính trị, xã hội của sức mạnh quân sự.

Biểu hiện điển hình của âm mưu, thủ đoạn này là xuyên tạc bản chất chính sách hậu phương quân đội của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Chúng rêu rao rằng chính sách hậu phương quân đội chỉ mang tính hình thức, là “chiêu trò”, “nói nhiều, làm ít”, quyền lợi không đến được với người thụ hưởng. Chúng lợi dụng một số nơi thực hiện chưa tốt, một số trường hợp cá biệt còn vướng mắc về hồ sơ, một vài hiện tượng đơn lẻ trục lợi chính sách để quy kết cho toàn bộ hệ thống chính sách là quan liêu, hình thức, không hiệu quả. Đây là thủ đoạn đánh tráo bản chất và hiện tượng, lấy cái cá biệt để phủ định cái phổ biến, lấy hạn chế đơn lẻ trong tổ chức thực hiện để xuyên tạc bản chất đúng đắn, nhân văn của hệ thống chính sách mà Đảng, Nhà nước ta đang triển khai thực hiện.

Một hướng tấn công rất thâm độc khác là chúng kích động tâm lý so bì lợi ích, vu cáo rằng quân nhân và gia đình quân nhân được hưởng “đặc quyền, đặc lợi”, cho rằng chính sách hậu phương quân đội tạo ra “bất công xã hội”, ưu ái cho một nhóm người. Bản chất của những luận điệu này là đánh thẳng vào tâm lý so bì lợi ích, châm ngòi mâu thuẫn giữa Nhân dân với Quân đội, từ đó phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm suy yếu thế trận lòng dân của nước ta. Thực tiễn Việt Nam trong những năm qua cho thấy, tất cả các chính sách đối với quân nhân, thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và thân nhân đều được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, ghi nhận đúng sự cống hiến, hy sinh, hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đặc quyền, đặc lợi”.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch còn lợi dụng những mất mát, đau thương và vướng mắc trong thực hiện chính sách chưa được giải quyết kịp thời để khoét sâu vào nỗi đau xã hội, từ đó tạo sự lệch lạc về nhận thức chính trị. Thực tế thời gian qua cho thấy, ngay cả những vụ việc mang tính chất rủi ro y khoa, khách quan trong quân đội cũng bị các đối tượng xấu lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo bản chất. Điển hình như vụ việc quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp tử vong tháng 2 năm 2025, khi cơ quan chức năng xác định nguyên nhân là sốc nhiễm khuẩn não mô cầu thể tối cấp và đã triển khai đầy đủ các biện pháp chuyên môn, phòng, chống dịch, đồng thời thực hiện công tác chính sách, thăm hỏi, hỗ trợ gia đình theo đúng quy định [3]. Tuy nhiên, trên không gian mạng, một số đối tượng đã cố tình cắt ghép, suy diễn, bóp méo bản chất vụ việc, từ một sự cố y khoa khách quan thành vấn đề mang tính nghi vấn, nhằm gây hoài nghi, kích động dư luận, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội.

Một biểu hiện rõ ràng là chúng lợi dụng những vướng mắc trong thực hiện chế độ đối với thương binh, liệt sĩ, người có công để vu khống rằng Đảng, Nhà nước ta lãng quên, không quan tâm đến người có công; kích động lập hội, nhóm bất mãn; xuyên tạc các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; thậm chí xúc phạm sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của quân và dân ta. Đây là một thủ đoạn đặc biệt thâm độc và nguy hiểm.

Hiện nay, không gian mạng đang trở thành môi trường để “lửa độc” lan tỏa với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và khó kiểm soát, tạo hiệu ứng dây chuyền trong nhận thức xã hội. Chúng tận dụng tối đa các kênh truyền thông, internet, mạng xã hội và các diễn đàn; sử dụng các bài viết mạo danh, thư góp ý, hồi ký, hình ảnh, video clip cắt ghép, các bình luận kích động, xuyên tạc… để phát tán thông tin sai trái, lừa đảo và phản động. Sự thâm độc ở chỗ, chúng thường bắt đầu bằng những lời lẽ không ầm ĩ, tưởng chừng khách quan, “bảo vệ người yếu thế”, “đòi công bằng”, “phản biện chính sách”, rồi từng bước dẫn dắt sang nghi ngờ chế độ, phủ định bản chất, đòi xét lại lịch sử, kích động tụ tập, gây rối và tạo đối kháng trong xã hội.

Điểu nguy hiểm hơn là, các thế lực thù địch không chỉ tấn công từ bên ngoài mà còn tìm cách thẩm thấu vào nhận thức, tâm lý và cảm xúc của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, gia đình quân nhân và Nhân dân. Khi thông tin xấu độc được lan truyền rộng rãi, lặp đi lặp lại, chúng sẽ tạo hiệu ứng đám đông, hình thành các “vòng lặp thông tin sai lệch” trong nhận thức xã hội, gây tâm lý hoài nghi, dao động, thậm chí dẫn tới những phản ứng cực đoan ở những người thiếu bản lĩnh hoặc thiếu thông tin. Từ đó, làm xói mòn niềm tin, làm suy yếu mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, khiến hậu phương không còn là chỗ dựa vững chắc của quân nhân, kéo theo sự suy giảm sức mạnh của Quân đội và thế trận lòng dân.

Trong điều kiện chiến tranh hiện đại và cạnh tranh chiến lược hiện nay, “lửa độc” thực chất là một dạng vũ khí mềm có sức công phá lớn. Trước sự phát triển của khoa học, công nghệ và hệ thống thông tin hiện đại, việc phát tán các thông tin xấu độc tấn công vào hậu phương quân đội trở thành một thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm. Nó làm nhiễu loạn thông tin, gây khủng hoảng niềm tin, làm rối loạn dư luận và chia rẽ nội bộ. Chính vì vậy, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với các thủ đoạn kích động, phá hoại hậu phương quân đội không chỉ là yêu cầu về công tác thông tin, tuyên truyền, mà còn là yêu cầu trực tiếp của nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững thế trận lòng dân và củng cố sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

2.3. Dập tắt “lửa độc”, xây dựng vững chắc hậu phương Quân đội

Muốn ngăn chặn “lửa độc” xâm nhập, chúng ta không thể chỉ dập lửa từ ngọn, mà phải giải quyết triệt để từ gốc, bằng chính sách đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả và củng cố niềm tin của Nhân dân. Phải kết hợp đồng thời giữa xây và chống, gắn việc giữ vững hậu phương với đấu tranh chủ động, sắc bén chống xuyên tạc, kích động, phá hoại. Thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác chính sách và hoạt động đền ơn đáp nghĩa bằng những đường lối, chủ trương đúng, hình thức, việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Điều 68, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân” [6].

Trước hết, cần nâng cao nhận thức thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, vai trò của hậu phương quân đội. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương cần tăng cường quán triệt, giáo dục, tuyên truyền sâu rộng về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng, với quân nhân và hậu phương quân đội. Trên tinh thần chủ động thông tin, giải thích chính xác, đối thoại dân chủ và định hướng dư luận kịp thời. Cần phát huy đồng bộ vai trò của báo chí, truyền thông chính thống, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên từ Trung ương đến cơ sở, các tổ chức chính trị xã hội và toàn thể Nhân dân trong tuyên truyền, định hướng thông tin một cách hiệu quả.  Điều 6, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2020 xác định nguyên tắc thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi là: “Chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân quan tâm, giúp đỡ và thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng” [8].

Hai là, triển khai thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời công tác chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội. Khi chế độ, chính sách được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng; khi người có công với cách mạng, gia đình người có công, quân nhân và thân nhân của quân nhân được chăm lo thực chất, kịp thời thì không thể có bất kỳ thông tin xuyên tạc nào có thể len lỏi vào hậu phương quân đội. Từ việc bảo đảm chế độ chính sách nhà ở, đất ở, chế độ tiền lương theo luật định, đến các chế độ ưu đãi như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm đời sống, chính sách hỗ trợ cho gia đình quân nhân khó khăn, bộ đội xuất ngũ… cho người có công với cách mạng, quân nhân và thân nhân của quân nhân một cách kịp thời, hiệu quả thì các luận điệu xuyên tạc cho rằng “hình thức”, “đặc quyền”, “bất công” sẽ không có đất sống.

Ba là, phải tăng cường sức đề kháng tư tưởng và năng lực số cho cán bộ, chiến sĩ, thân nhân của quân nhân và các tầng lớp nhân dân trong nhận diện, đấu tranh, vạch trần và bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại hậu phương quân đội. Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống AI, deepfake, thông tin giả mạo trên không gian mạng, các nền tảng số phát triển một cách nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định thật, giả, việc bảo vệ hậu phương quân đội không thể chỉ bằng tinh thần cảnh giác chung chung. Cần trang bị cho quân nhân và gia đình họ những kỹ năng nhận diện các thông tin sai trái, thông tin cắt ghép; cách thức, phương pháp kiểm chứng các nguồn thông tin; cách ứng xử khi gặp vụ việc nhạy cảm liên quan ngoài đời thực và trên mạng xã hội. Đồng thời, phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng bản lĩnh, năng lực nhận thức và hành động để mỗi quân nhân không trở thành điểm bị xuyên phá, mỗi gia đình quân nhân không trở thành mắt xích bị lợi dụng.

Tác động mạnh của không gian mạng đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên.

Tranh minh họa của Quang Cường.

(Nguồn trích Báo Quân đội nhân dân điện tử).

Bốn là, gắn xây dựng hậu phương quân đội với củng cố thế trận lòng dân vững chắc. Quân đội càng gần dân, hiểu dân, giúp dân, chia sẻ những khó khăn, vất vả với Nhân dân, thì Quân đội càng có thêm niềm tin vững chắc của Nhân dân, thêm “lá chắn” xã hội trước mọi thông tin xuyên tạc. Thực tiễn đã chứng minh, Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong mưa bom, bão đạn hay trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, giúp đỡ Nhân dân không màng hy sinh tính mạng… đó là minh chứng sống bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuối năm 2025, đồng bào các tỉnh miền Trung bị tàn phá bởi bão lụt “làm 1.597 nhà bị sập, đổ, cuốn trôi và 34.759 nhà bị hư hỏng” [2].

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và Nhân dân cả nước đã vào cuộc, chung tay xây nhà cho Nhân dân vùng lũ, mà lực lượng trực tiếp là Quân đội, với “Chiến dịch Quang Trung thần tốc” đã “kịp thời khởi công xây dựng lại 971/1.635 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn và sửa chữa xong 34.627/39.461 căn nhà bị hư hỏng” [2], kịp thời giúp đồng bào có nhà mới để đón Tết Nguyên đán.

Năm là, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò nòng cốt của chính quyền các cấp trong xây dựng sức mạnh Quân đội và các chế độ, chính sách đối với hậu phương quân đội. Hậu phương quân đội là lĩnh vực cần được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, có cơ chế, trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra thực hiện chặt chẽ. Phải tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật; làm rõ cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, đơn vị. Tập trung nâng cao chất lượng tham mưu, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết; đồng thời kiên quyết xử lý các sai phạm, tiêu cực trong thực hiện chính sách, không để tạo cớ cho các đối tượng xấu lợi dụng, xuyên tạc, thổi phồng. Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong thực thi chính sách là một cách hiệu quả để dập tắt “lửa độc” bén vào mái nhà hậu phương quân đội.

3. Kết luận

Hậu phương quân đội là nhân tố nền tảng của sức mạnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là nơi hội tụ lòng dân, niềm tin chính trị, truyền thống đạo lý của dân tộc, đường lối, chính sách của Đảng, của chế độ và trách nhiệm của toàn xã hội đối với người có công với cách mạng, với quân nhân và thân nhân của quân nhân. Trước điều kiện, hoàn cảnh mới của thời đại, khi các thế lực thù địch gia tăng chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc với nhiều hình thức khác nhau, thì không để “lửa độc” bén vào mái nhà hậu phương quân đội trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Dập tắt “lửa độc” không chỉ là bóc gỡ những tin giả hay phản bác những luận điệu xuyên tạc, mà phải kết hợp cả quá trình xây dựng chính sách đúng; xây dựng niềm tin xã hội; xây dựng sức đề kháng tư tưởng cho quân nhân, thân nhân của quân nhân và toàn xã hội; xây dựng môi trường thông tin lành mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; xây dựng mối quan hệ quân - dân bền chặt.

Khi hậu phương quân đội vững mạnh, niềm tin xã hội được củng cố, thì người quân nhân sẽ thêm vững chắc ý chí và hành động; khi “mái nhà” hậu phương được giữ vững, thì sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ không ngừng được tăng cường, đủ khả năng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Báo Nhân Dân (2026), “Gỡ những vướng mắc trong triển khai chính sách người có công”, truy cập ngày 25/4/2026, tại: https://nhandan.vn/go-nhung-vuong-mac-trong-trien-khai-chinh-sach-nguoi-co-cong-post831375.html

[2]. Báo Quân đội nhân dân điện tử (2026), “Thủ tướng Phạm Minh Chính: Chiến dịch Quang Trung thần tốc đã chiến thắng giòn giã”, ngày 16/01/2026, truy cập ngày 25/4/2026, tại: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/thu-tuong-pham-minh-chinh-chien-dich-quang-trung-than-toc-da-chien-thang-gion-gia-1021781

[3]. Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) (2025), “Quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp tử vong do sốc nhiễm khuẩn não mô cầu”, đăng ngày 12/02/2025, truy cập ngày 25/4/2026, tại: https://vov.vn/xa-hoi/quan-nhan-nguyen-van-nghiep-tu-vong-do-soc-nhiem-khuan-nao-mo-cau-post1154278.vov

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[6]. Quốc hội (2013), Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.

[7]. Thông tấn xã Việt Nam (2024), “Tăng tốc hơn nữa, quyết tâm hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025”, đăng ngày 06/11/2024, truy cập ngày 25/4/2026, tại: https://nvsk.vnanet.vn/tang-toc-hon-nua-quyet-tam-hoan-thanh-muc-tieu-xoa-nha-tam-nha-dot-nat-trong-nam-2025-1-155708.vna

[8]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2020), Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, số 02/2020/UBTVQH14.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).