1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TÂM LÝ CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ở CÁC TRƯỜNG QUÂN ĐỘI TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ HIỆN NAY

05:36 | 27/09/2025
aA

 

                                                                                                                                             Trung tá TS, Đồng Bá Tuấn

                                                                                                                                                                                                     Trung tá ThS Đặng Văn Hoàng

                                                                                                                                                                                             Trung tá ThS Vũ Huy Chung

            Giảng viên Khoa Tâm lý học quân sự, Học viện Chính trị

 

Tóm tắt: Chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các nhà trường Quân đội hiện nay là một xu thế tất yếu, phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình hiện đại hóa, nhất là trong lĩnh vực đổi mới phương pháp dạy học. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng môi trường đào tạo linh hoạt, tích hợp, hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, quá trình chuyển đổi số ở các nhà trường Quân đội đang gặp những khó khăn, cản trở nhất định, trong đó nổi bật là những khó khăn về mặt tâm lý của đội ngũ giảng viên. Do đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp khả thi, phù hợp, nhằm khắc phục những khó khăn tâm lý trong ứng dụng chuyển đổi số vào đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên ở các nhà trường Quân đội hiện nay.

Từ khoá: Chuyển đổi số, Phương pháp dạy học, giảng viên, nhà trường Quân đội, khó khăn tâm lý.

Nhận bài: 26/9/2025; Biên tập:26/9/2025; Duyệt đăng: 27/9/2025

Ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục, đào tạo trong Quân đội nói riêng. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của chuyển đổi số, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm ứng dụng công nghệ số vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Trong đó, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học trên nền tảng công nghệ số được xác định là một nội dung trọng tâm.

Ở các nhà trường Quân đội, đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và ứng dụng chuyển đổi số vào đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, quá trình này đang gặp phải không ít rào cản về mặt tâm lý từ phía giảng viên, ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học ở các nhà trường Quân đội. Một bộ phận giảng viên, nhất là những giảng viên có tuổi đời cao vẫn còn tâm lý e ngại, chần chừ trong việc thay đổi cách dạy truyền thống do lo ngại trước tốc độ phát triển nhanh chóng và tính phức tạp của công nghệ số. Bên cạnh đó, nhiều giảng viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để vận dụng hiệu quả công nghệ số vào quá trình dạy học. Nguồn tài nguyên số hiện nay rất phong phú, song lại phân tán trên nhiều nền tảng, tồn tại song song cả những tài liệu chưa được xác thực, thiếu kiểm duyệt chặt chẽ, gây ra tình trạng thiếu đồng bộ, thậm chí trùng lặp nội dung. Mặt khác, hạ tầng kỹ thuật và kết nối internet tại một số nhà trường Quân đội tuy đã được đầu tư nâng cấp nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy số hóa ở quy mô rộng và liên tục. Đặc biệt, các vấn đề về an toàn thông tin, nguy cơ rò rỉ dữ liệu liên quan đến bảo mật quân sự và thông tin cá nhân của giảng viên, học viên cũng đang trở thành nỗi lo ngại, gây ảnh hưởng đến tâm lý tiếp cận công nghệ số của đội ngũ giảng viên.

Những khó khăn tâm lý mà giảng viên đang gặp phải trong quá trình ứng dụng chuyển đổi số không chỉ bắt nguồn từ yếu tố chủ quan, như: Thói quen, tâm lý ngại đổi mới hay hạn chế về năng lực công nghệ, mà còn phản ánh sự thiếu đồng bộ trong công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bảo đảm chuyển đổi số diễn ra hiệu quả, bền vững trong môi trường giáo dục quân sự. Điều này đòi hỏi các nhà trường Quân đội phải có cách tiếp cận toàn diện, với hệ thống giải pháp đồng bộ và có trọng tâm, nhằm tác động trực tiếp đến cả yếu tố nhận thức và năng lực thực tiễn của đội ngũ giảng viên. Trên cơ sở đó, để thực hiện có hiệu quả quan điểm của Quân ủy Trung ương: “Phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đi số trong Quân đội là một trong các đột phá quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn tiên phong góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”; các nhà trường Quân đội cần quan tâm thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và hình thành tâm thế thích ứng cho đội ngũ giảng viên trong ứng dụng chuyển đổi số vào dạy học

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần nhận thức đầy đủ tính tất yếu khách quan và vai trò chiến lược của chuyển đổi số trong phát triển giáo dục, đào tạo Quân đội. Trên cơ sở đó, cần tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo; đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì trong tiếp cận công nghệ, đổi mới phương pháp lãnh đạo, từ đó lan tỏa tinh thần đổi mới tới đội ngũ giảng viên. Chú trọng tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về bản chất, vai trò và ý nghĩa của chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo cho giảng viên. Nội dung tuyên truyền cần khẳng định rõ chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là việc tin học hóa hay sử dụng thiết bị công nghệ trong giảng dạy, mà là quá trình chuyển đổi toàn diện phương thức tổ chức, quản lý, dạy và học, dựa trên nền tảng công nghệ số.

Chuyển đổi số là công cụ hỗ trợ đắc lực để đổi mới phương pháp dạy học, giúp tăng hiệu quả truyền đạt, cá nhân hóa việc học tập của học viên, đồng thời giảm áp lực quản lý, đánh giá và lưu trữ thông tin giảng dạy. Quá trình tuyên truyền, giáo dục cần tổ chức đa dạng, phong phú các hoạt động, như: Tập huấn, hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề, sinh hoạt khoa học theo khoa, bộ môn nhằm phân tích sâu sắc về bản chất, lợi ích và yêu cầu của chuyển đổi số trong giáo dục quân sự. Việc tổ chức các lớp tập huấn ứng dụng công nghệ số cần có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng tính thực tiễn, giúp giảng viên vừa được giới thiệu phần mềm, nền tảng số, vừa trực tiếp thao tác, thiết kế bài giảng mẫu, xử lý tình huống cụ thể trong giảng dạy. Đồng thời, cấp uỷ, chỉ huy và cán bộ quản lý ở các khoa, bộ môn cần chủ động nắm bắt diễn biến tâm lý của giảng viên thuộc quyền, kịp thời động viên, chia sẻ và hỗ trợ họ vượt qua tâm lý e ngại, tự ti, thụ động.

Ngoài ra, cần thực hiện tốt cơ chế phản hồi tích cực, kịp thời biểu dương, khuyến khích giảng viên có sáng kiến hoặc có tiến bộ trong tiếp cận công nghệ, tránh tạo áp lực tâm lý khi triển khai ứng dụng công nghệ số vào quá trình dạy học. Điều này góp phần hình thành môi trường học thuật tích cực, khuyến khích đổi mới, giúp giảng viên dần vượt qua tâm lý bỡ ngỡ, lo lắng, và từng bước thích nghi với yêu cầu chuyển đổi số gắn với đổi mới phương pháp dạy học trong các nhà trường Quân đội hiện nay.

Hai là, tăng cường tổ chức tập huấn, bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy cho đội ngũ giảng viên

Để từng bước nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, đòi hỏi các chương trình tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên cần được triển khai bài bản, có trọng điểm, sát với yêu cầu thực tiễn và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng giảng viên. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi, gồm: Trang bị kiến thức nền tảng về chuyển đổi số; hướng dẫn kỹ năng thiết kế, xây dựng bài giảng số có tính tương tác cao; sử dụng thành thạo các nền tảng dạy học trực tuyến, phần mềm quản lý lớp học, công cụ kiểm tra, đánh giá số hóa; kỹ năng khai thác, đánh giá, quản lý học liệu số và đặc biệt là kỹ năng đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu trong quá trình giảng dạy bằng công nghệ số.

Công tác bồi dưỡng, tập huấn phải bảo đảm tính thực tiễn, trực quan, dễ tiếp cận và dễ ứng dụng. Nội dung cần gắn chặt với thực tế giảng dạy của giảng viên ở từng nhà trường, từng chuyên ngành, tránh sa vào lý thuyết chung chung, hàn lâm. Các tài liệu sử dụng cần ngắn gọn, dễ hiểu, có minh họa rõ ràng, hướng dẫn cụ thể từng bước thao tác. Đặc biệt, cần tạo môi trường học tập cởi mở, dân chủ, khuyến khích giảng viên nêu lên khó khăn, trao đổi kinh nghiệm và phản hồi hai chiều với người hướng dẫn.

Quá trình tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cần linh hoạt, đa dạng, kết hợp giữa đào tạo tập trung và phân nhóm nhỏ theo nhu cầu thực tế nhằm chuẩn hóa nhận thức và cung cấp kiến thức nền, giúp giảng viên thao tác trực tiếp trên các phần mềm, công cụ số, qua đó tăng khả năng làm chủ công nghệ. Bên cạnh đó, hình thức học tập trực tuyến có hướng dẫn (blended learning) cũng nên được áp dụng nhằm tối ưu hóa thời gian và tạo điều kiện cho giảng viên tự học, tự nâng cao trình độ. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của giảng viên trẻ, có trình độ công nghệ tốt, trong việc hỗ trợ, hướng dẫn, đồng hành cùng các giảng viên lớn tuổi, ít có điều kiện tiếp cận công nghệ, từ đó tạo ra môi trường chia sẻ, lan tỏa tinh thần đổi mới trong tập thể sư phạm. Các nhà trường Quân đội cần chủ động phân loại đội ngũ giảng viên theo trình độ, thâm niên, khả năng tiếp cận công nghệ để xây dựng chương trình tập huấn phù hợp; đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các khoa, bộ môn trong việc tổ chức hoặc đề xuất nội dung tập huấn sát với đặc thù giảng dạy từng chuyên ngành. Cùng với đó, cần có cơ chế kiểm tra, đánh giá chất lượng tập huấn thông qua sản phẩm đầu ra cụ thể như bài giảng số mẫu, kế hoạch cải tiến bài giảng hoặc các minh chứng về ứng dụng công nghệ số trong dạy học của giảng viên.

Ba, xây dựng môi trường sư phạm số tích cực, thân thiện, lấy người học làm trung tâm và người dạy làm động lực đổi mới

Môi trường giảng dạy đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi tâm lý giảng viên, giúp họ vượt qua các khó khăn khi chuyển sang phương pháp giảng dạy mới, đặc biệt với phương pháp đòi hỏi cần phát huy triệt để sự linh hoạt, sáng tạo trong ứng dụng khoa học, công nghệ. Nội dung xây dựng môi trường sư phạm số cần tập trung vào việc phát triển không gian học tập hiện đại, linh hoạt, có sự tích hợp hài hòa giữa công nghệ và yếu tố sư phạm. Trong đó, người học được đặt ở vị trí trung tâm, được tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các công cụ số tương tác như bài giảng điện tử, lớp học trực tuyến, phần mềm đánh giá tiến trình học tập.

Môi trường sư phạm số phải bảo đảm tính tích cực, thân thiện, giảm bớt căng thẳng tâm lý cho cả người dạy và người học; đồng thời có tính linh hoạt, thích ứng với các cấp độ đào tạo và trình độ công nghệ khác nhau. Hệ thống học liệu số cần phong phú,  đồng bộ, dễ truy cập, dễ thao tác và bảo đảm an toàn thông tin, đáp ứng yêu cầu học tập đa dạng của người học và giảng dạy hiệu quả của giáo viên. Điều đó đòi hỏi, các nhà trường Quân đội cần đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng số trong quản lý, giảng dạy và học tập, trong đó kết hợp giữa dạy học trực tiếp với các không gian học tập ảo (blended learning), sử dụng phần mềm quản lý lớp học, học liệu mở, các hệ thống hỗ trợ đánh giá trực tuyến. Bên cạnh đó, việc thiết lập các diễn đàn học thuật, nhóm học tập trực tuyến, không gian chia sẻ chuyên môn giữa các giảng viên cũng góp phần hình thành một cộng đồng sư phạm tích cực, cởi mở và lan tỏa tinh thần đổi mới. Quá trình triển khai cần có lộ trình rõ ràng, phù hợp với điều kiện thực tế, tránh đầu tư dàn trải, hình thức, thiếu tính bền vững. Đặc biệt, cần gắn kết hoạt động xây dựng môi trường sư phạm số với các phong trào thi đua, tiêu chí đánh giá kết quả công tác của giảng viên và đơn vị, qua đó thúc đẩy sự tham gia chủ động, tích cực và lâu dài.

Bốn là, bảo đảm đồng bộ cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, phần mềm giảng dạy, tài nguyên số và nguồn lực tài chính phục vụ chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở các nhà trường Quân đội

Đây là những yếu tố nền tảng quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ và hình thành môi trường giáo dục hiện đại ở các nhà trường Quân đội. Trước hết, cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ dạy - học số. Bao gồm: Phòng học thông minh, mạng nội bộ tốc độ cao, máy chủ bảo mật, hệ thống quản lý đào tạo (LMS), nền tảng học trực tuyến, các thiết bị trình chiếu, bảng tương tác, thiết bị ghi hình, phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng, ngân hàng câu hỏi, cũng như các công cụ tổ chức dạy học đa phương tiện. Việc trang bị đồng bộ các thiết bị và phần mềm không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn giúp giảng viên giảm thiểu áp lực kỹ thuật, tăng khả năng chủ động, sáng tạo trong tổ chức lớp học. Chú trọng xây dựng và duy trì kho học liệu số phong phú, có hệ thống, bảo đảm cập nhật thường xuyên, phù hợp với từng môn học, đối tượng đào tạo và yêu cầu thực tiễn để hỗ trợ giảng viên và học viên khai thác tri thức trên môi trường số một cách thuận tiện, hiệu quả. Đồng thời, việc chuẩn hóa và thống nhất tài nguyên số dùng chung trong toàn trường, toàn ngành sẽ bảo đảm tính chính xác, đồng bộ và tránh trùng lặp, lãng phí.

Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách đào tạo hợp lý, ưu tiên cho các hạng mục thiết yếu phục vụ chuyển đổi số. Nguồn kinh phí phải bảo đảm cho việc đầu tư hạ tầng số, mua bản quyền phần mềm, nâng cấp nền tảng dạy học, cũng như tổ chức bồi dưỡng kỹ năng số cho giảng viên, chuyên gia kỹ thuật và cán bộ quản lý. Đồng thời, cần nghiên cứu lộ trình xã hội hóa có kiểm soát một số hoạt động đào tạo số; đẩy mạnh hợp tác với các đơn vị, nhà trường trong và ngoài quân đội về công nghệ thông tin nhằm huy động thêm nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư, giảm áp lực và tránh sự phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.

2. Bộ Quốc phòng, Kế hoạch số 552/KH-BQP ngày 12/02/2024 về chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 2024.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

4. Quân uỷ Trung ương, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội, 2020.

5. Quân uỷ Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Hà Nội, 2025.

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).