HOÀN THIỆN NĂNG LỰC SỐ CHO SINH VIÊN TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Th.S Trần Chí Hiếu
Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Th.S Phạm Chí Công
Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang tác động sâu rộng đến mọi khía cạnh kinh tế - xã hội tại Việt Nam, việc nâng cao năng suất và tối ưu hóa chi phí sản xuất trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Để hiện thực hóa kỳ vọng này, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với năng lực số vững vàng là điều kiện tiên quyết. Đặc biệt, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khả năng khai thác công cụ công nghệ một cách đạo đức và trách nhiệm trở thành tiêu chuẩn bắt buộc. Do đó, hoàn thiện năng lực số cho sinh viên không chỉ là yêu cầu bức thiết mà còn là yếu tố then chốt đảm bảo sự thành công của lộ trình chuyển đổi số quốc gia.
Từ khóa: chuyển đổi số, năng lực số, trí tuệ nhân tạo.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh các quốc gia đang đẩy mạnh đầu tư vào các lãnh vực cốt lõi của công nghệ trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI (artificial intelligence), thì việc phát triển năng lực số cho người học ở bậc giáo dục đại học là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Các công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đã và đang mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức, tác động sâu sắc đến xã hội, kinh tế và lực lượng lao động ở hầu hết ngành nghề. Vì thế, cần phải tập trung nâng cao các kỹ năng nền tảng cùng với các năng lực liên quan đến kỹ thuật số và AI để góp phần chuẩn bị cho người học một hành trang đủ để đáp ứng thị trường việc làm không ngừng thay đổi.
2. Thực trạng
2.1 Thực trạng phổ cập kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam
Theo Niên giám thống kê năm 2024 của Cục Thống kê Việt Nam, tỷ lệ người dân biết kỹ năng về công nghệ thông tin của toàn quốc là 46,8%.
Thống kê theo độ tuổi cho thấy tỷ lệ cao nhất rơi vào độ tuổi từ 12 đến 24 (bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học). Điều này cho thấy chương trình đào tạo đã trang bị tốt kỹ năng công nghệ thông tin cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nếu thống kê theo phân loại kỹ năng thì có 46,5% đạt mức độ cơ bản và 20,3% đạt mức độ nâng cao. Tỷ lệ có kỹ năng về công nghệ thông tin ở mức độ nâng cao chỉ chiếm khoảng một nữa của mức độ cơ bản. Điều này cho thấy có khả năng thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin ở trình độ cao, có khả năng làm chủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo được các tổ chức, đơn vị triển khai rộng rãi trong mọi hoạt động.

Hình 6. Tỷ lệ người dân biết kỹ năng về công nghệ thông tin theo nhóm tuổi.
(Nguồn: Niên giám thống kê 2024).
2.2 Thực trạng kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông của sinh viên tại Trường Đại học Mở
Theo kết quả đánh giá học phần Tin học Văn phòng của sinh viên tại trường Đại học Mở, sinh viên sử dụng được các công cụ phần mềm như Word, PowerPoint, Excel, Google Meet... nhưng chỉ ở mức độ cơ bản, chưa sử dụng được công cụ để khai thác dữ liệu, phân tích thông tin hay đưa ra hướng giải quyết vấn đề.
Mặc khác, cái bài thảo luận cá nhân cho thấy kỹ năng tìm kiếm, đánh giá thông tin số, tư duy phản biện số của sinh viên còn yếu. Đa số sinh viên chỉ sử dụng thông tin do AI cung cấp, thiếu khả năng phân tích và tổng hợp thông tin học thuật.
3. Khung đánh giá năng lực số
Hiện nay, các thống kê về tỷ lệ người dân có kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông, gọi tắt là ICT (Information and Communication Technology), thường được thực hiện theo chỉ số SDG 4.4.1 của SDG (Sustainable Development Goals – Các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc). SDG 4.4.1 thực hiện thống kê theo nhóm kỹ năng, dựa trên Khung Năng Lực Số của châu Âu hoặc Khung Năng Lực Số của quốc gia xây dựng.
Việc đánh giá kỹ năng ICT của cá nhân một cách chung chung có thể mang tính chủ quan, vì vậy, theo Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union – ITU), kỹ năng ICT được đo lường dựa trên việc cá nhân đó gần đây có thực hiện các tác vụ trong các nhóm kỹ năng ở một mức độ thành thạo nhất định hay không. Câu hỏi khảo sát thường là "trong ba tháng qua bạn có làm được các tác vụ ... không?", thay vì "bạn có biết sử dụng công nghệ thông tin không?".
3.1 Khung năng lực số châu Âu
Năng lực kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo là nền tảng cơ bản cho tất cả mọi người, không chỉ dừng lại ở việc sử dụng đúng cách, mà còn bao gồm các kỹ năng tư duy nâng cao như phân tích, đánh giá và sáng tạo với sự trợ giúp của các công cụ trí tuệ nhân tạo. Chính vì thế, vào năm 2013, Trung tâm Nghiên cứu Chung (Joint Research Centre -JRC) của Ủy ban châu Âu đã ban hành phiên bản đầu tiên của Khung năng lực số châu Âu (European Digital Competence Framework) dành cho cho công dân – DigComp 1.0.

Hình 7. Khung năng lực số châu Âu DigComp 3.0. Nguồn: JRC
Theo định nghĩa của JRC (2018): Năng lực số (digital competence) là khả năng sử dụng công nghệ số để học tập, làm việc, tham gia xã hội một cách tự tin, có tính phản biện và có tinh thần chịu trách nhiệm. Năng lực số bao gồm hiểu biết và thành thạo về thông tin và dữ liệu, giao tiếp và cộng tác, phương tiện truyền thông, tạo nội dung kỹ thuật số (lập trình), an toàn (an ninh số và an ninh mạng), giải quyết vấn đề và tư duy phản biện. Có thể nói, năng lực số kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Phiên bản hiện nay của Khung năng lực số châu Âu là DigComp 3.0, ban hành ngày 27/11/2025. DigComp 3.0 cập nhật mô tả năm lãnh vực năng lực và bốn cấp độ thành thạo, đồng thời bổ sung thêm chuẩn đầu ra chi tiết và tích hợp trí tuệ nhân tạo xuyên suốt khung.
3.2 Khung năng lực số Việt Nam
Khung năng lực số Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tham chiếu DigComp của châu Âu, được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành ngày 24/1/2025. Khung năng lực số dùng để làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, tài liệu học tập; xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá và công nhận năng lực số của người học; đảm bảo tính thống nhất về yêu cầu năng lực số của người học. Khung năng lực số bao gồm 6 miền năng lực với 24 năng lực thành phần, được chia thành 4 trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu theo tám bậc.
So với khung năng lực số châu Âu, thì điểm khác biệt lớn nhất trong khung năng lực số Việt Nam là mô tả năng lực về trí tuệ nhân tạo thành một module riêng, nhằm triển khai đào tạo và quản lý. Trong khi DigComp của châu Âu tích hợp trí tuệ nhân tạo vào mỗi năng lực, mô tả và đánh giá chi tiết hơn.

Hình 8. Khung năng lực số dành cho người học theo thông tư 02/2025/TT-BGDĐT.
4. Giải pháp
Trước thực trạng sinh viên tiếp cận với công nghệ thông tin và truyền thông khá sớm nhưng ở mức độ không sâu, thì việc tích hợp khung năng lực số vào chương trình đào tạo một cách hệ thống là điều cần thiết. Mặc khác, quá trình chuyển đổi số cần nguồn nhân lực có các năng lực chủ chốt như đạo đức trong sử dụng AI, tư duy phản biện, sáng tạo và giải quyết vấn đề ở mức độ nâng cao. Vì vậy, để có thể giúp sinh viên hoàn thiện năng lực số trong thời đại trí tuệ nhân tạo, các giải pháp cần phải được tiến hành đồng bộ, có hệ thống, có sự phối hợp giữa người dạy, người học và nhà quản lý giáo dục và phải được triển khai dựa trên khung năng số của quốc gia và chỉ số SDG 4.4.1.
Về phía người dạy
Người dạy là nhân tố quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực số cho sinh viên. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực số cho người dạy là điều hết sức cần thiết. Đội ngũ giảng viên cần phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy, đặc biệt là dạy học theo dự án, giúp người học phát triển tư duy, kỹ năng sống và kỹ năng giải quyết vấn đề.
Về phía người học
Người học cần tăng cường tính chủ động, hoàn thiện kiến thức nền tảng về công nghệ thông tin và truyền thông. Người học phải nhận thức được các nguyên tắc trong sử dung trí tuệ nhân tạo để học tập, tự rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề bằng tư duy sáng tạo. Đây là yếu tố hình thành nền tảng đạo đức số - một điều kiện thiết yếu để có thể trở thành công dân số, đáp ứng yêu cầu trong thị trường lao động hiện đại.
Về phía nhà quản lý giáo dục
Nhà quản lý giáo dục cần quyết định cách tích hợp năng lực số vào chương trình đào tạo các cấp, không để người dạy thực hiện theo kiểu tự phát. Nhà quản lý cần hiểu rằng "giảng viên là người dẫn đường", nếu giảng viên không có năng lực số, sinh viên không thể phát triển năng lực số. Vì vậy cần có các khóa tập huấn định kỳ, có chính sách khen thưởng cho giảng viên tiên phong trong việc đổi mới phương pháp dạy học số.
Bên cạnh đó, nhà trường cần mở rộng hợp tác chiến lược với doanh nghiệp, ký kết với các tập đoàn công nghiệp để đưa sinh viên đi thực tập trong môi trường số thực tế, đồng thời tổ chức các cuộc thì sáng tạo để tạo điều kiện cho sinh viên ứng dụng năng lực số giải quyết các bài toán thực tế của doanh nghiệp.
5. Kết luận
Năng lực số không chỉ là một tập hợp các nhóm kỹ năng, mà còn là nền tảng của công dân trong kỷ nguyên số, đặc biệt trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Việc hoàn thiện năng lực số cho sinh viên cần được coi là chiến lược của giáo dục đại học ở Việt Nam, không phải theo phong trào. Sinh viên cần được trang bị đầy đủ hành trang để sau khi tốt nghiệp có thể bước vào một thế giới việc làm, nơi mà kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo là vô cùng cần thiết. Đây không chỉ là trách nhiệm của người học, người dạy, mà là trách nhiệm phối hợp của cả hệ thống giáo dục, doanh nghiệp và Nhà nước.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Thông tin và Truyền thông, Sách Trắng Công nghiệp Công nghệ thông tin Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2024.
[2] Cục thống kê, Niên giám thống kê 2024, Nxb Thống kê, 2024
[3] Cosgrove, J. and Cachia, R., DigComp 3.0: European Digital Competence Framework - Fifth Edition, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2025, https://data.europa.eu/doi/10.2760/0001149, JRC144121.
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khung năng lực số cho người học, Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT, 2025.
[5] https://sustainabledevelopment.un.org/sdg4
[6] https://data.worldbank.org