1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

HOÀN THIỆN NĂNG LỰC SỐ CHO SINH VIÊN TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

10:19 | 04/02/2026
aA

Th.S Trần Chí Hiếu

Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Th.S Phạm Chí Công

Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang tác động sâu rộng đến mọi khía cạnh kinh tế - xã hội tại Việt Nam, việc nâng cao năng suất và tối ưu hóa chi phí sản xuất trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Để hiện thực hóa kỳ vọng này, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với năng lực số vững vàng là điều kiện tiên quyết. Đặc biệt, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khả năng khai thác công cụ công nghệ một cách đạo đức và trách nhiệm trở thành tiêu chuẩn bắt buộc. Do đó, hoàn thiện năng lực số cho sinh viên không chỉ là yêu cầu bức thiết mà còn là yếu tố then chốt đảm bảo sự thành công của lộ trình chuyển đổi số quốc gia.

Từ khóa: chuyển đổi số, năng lực số, trí tuệ nhân tạo.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh các quốc gia đang đẩy mạnh đầu tư vào các lãnh vực cốt lõi của công nghệ trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI (artificial intelligence), thì việc phát triển năng lực số cho người học ở bậc giáo dục đại học là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Các công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đã và đang mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức, tác động sâu sắc đến xã hội, kinh tế và lực lượng lao động ở hầu hết ngành nghề. Vì thế, cần phải tập trung nâng cao các kỹ năng nền tảng cùng với các năng lực liên quan đến kỹ thuật số và AI để góp phần chuẩn bị cho người học một hành trang đủ để đáp ứng thị trường việc làm không ngừng thay đổi.

2. Thực trạng

2.1 Thực trạng phổ cập kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam

Theo Niên giám thống kê năm 2024 của Cục Thống kê Việt Nam, tỷ lệ người dân biết kỹ năng về công nghệ thông tin của toàn quốc là 46,8%.

Thống kê theo độ tuổi cho thấy tỷ lệ cao nhất rơi vào độ tuổi từ 12 đến 24 (bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học). Điều này cho thấy chương trình đào tạo đã trang bị tốt kỹ năng công nghệ thông tin cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nếu thống  kê theo phân loại kỹ năng thì có 46,5% đạt mức độ cơ bản và 20,3% đạt mức độ nâng cao. Tỷ lệ có kỹ năng về công nghệ thông tin ở mức độ nâng cao chỉ chiếm khoảng một nữa của mức độ cơ bản. Điều này cho thấy có khả năng thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin ở trình độ cao, có khả năng làm chủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo được các tổ chức, đơn vị triển khai rộng rãi trong mọi hoạt động.

Hình 6. Tỷ lệ người dân biết kỹ năng về công nghệ thông tin theo nhóm tuổi.
(
Nguồn: Niên giám thống kê 2024).

2.2 Thực trạng kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông của sinh viên tại Trường Đại học Mở

Theo kết quả đánh giá học phần Tin học Văn phòng của sinh viên tại trường Đại học Mở, sinh viên sử dụng được các công cụ phần mềm như Word, PowerPoint, Excel, Google Meet... nhưng chỉ ở mức độ cơ bản, chưa sử dụng được công cụ để khai thác dữ liệu, phân tích thông tin hay đưa ra hướng giải quyết vấn đề.

Mặc khác, cái bài thảo luận cá nhân cho thấy kỹ năng tìm kiếm, đánh giá thông tin số, tư duy phản biện số của sinh viên còn yếu. Đa số sinh viên chỉ sử dụng thông tin do AI cung cấp, thiếu khả năng phân tích và tổng hợp thông tin học thuật.

3. Khung đánh giá năng lực số 

Hiện nay, các thống kê về tỷ lệ người dân có kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông, gọi tắt là ICT (Information and Communication Technology), thường được thực hiện theo chỉ số SDG 4.4.1 của SDG (Sustainable Development Goals – Các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc). SDG 4.4.1 thực hiện thống kê theo nhóm kỹ năng, dựa trên Khung Năng Lực Số của châu Âu hoặc Khung Năng Lực Số của quốc gia xây dựng.

Việc đánh giá kỹ năng ICT của cá nhân một cách chung chung có thể mang tính chủ quan, vì vậy, theo Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union – ITU), kỹ năng ICT được đo lường dựa trên việc cá nhân đó gần đây có thực hiện các tác vụ trong các nhóm kỹ năng ở một mức độ thành thạo nhất định hay không. Câu hỏi khảo sát thường là "trong ba tháng qua bạn có làm được các tác vụ ... không?", thay vì "bạn có biết sử dụng công nghệ thông tin không?".

3.1 Khung năng lực số châu Âu

Năng lực kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo là nền tảng cơ bản cho tất cả mọi người, không chỉ dừng lại ở việc sử dụng đúng cách, mà còn bao gồm các kỹ năng tư duy nâng cao như phân tích, đánh giá và sáng tạo với sự trợ giúp của các công cụ trí tuệ nhân tạo. Chính vì thế, vào năm 2013, Trung tâm Nghiên cứu Chung (Joint Research Centre -JRC) của Ủy ban châu Âu đã ban hành phiên bản đầu tiên của Khung năng lực số châu Âu (European Digital Competence Framework) dành cho cho công dân – DigComp 1.0.

Hình 7. Khung năng lực số châu Âu DigComp 3.0. Nguồn: JRC

Theo định nghĩa của JRC (2018): Năng lực số (digital competence) là khả năng sử dụng công nghệ số để học tập, làm việc, tham gia xã hội một cách tự tin, có tính phản biện và có tinh thần chịu trách nhiệm. Năng lực số bao gồm hiểu biết và thành thạo về thông tin và dữ liệu, giao tiếp và cộng tác, phương tiện truyền thông, tạo nội dung kỹ thuật số (lập trình), an toàn (an ninh số và an ninh mạng), giải quyết vấn đề và tư duy phản biện. Có thể nói, năng lực số kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ.

Phiên bản hiện nay của Khung năng lực số châu Âu là DigComp 3.0, ban hành ngày 27/11/2025. DigComp 3.0 cập nhật mô tả năm lãnh vực năng lực và bốn cấp độ thành thạo, đồng thời bổ sung thêm chuẩn đầu ra chi tiết và tích hợp trí tuệ nhân tạo xuyên suốt khung.

3.2 Khung năng lực số Việt Nam

Khung năng lực số Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tham chiếu DigComp của châu Âu, được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành ngày 24/1/2025. Khung năng lực số dùng để làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, tài liệu học tập; xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá và công nhận năng lực số của người học; đảm bảo tính thống nhất về yêu cầu năng lực số của người học. Khung năng lực số bao gồm 6 miền năng lực với 24 năng lực thành phần, được chia thành 4 trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu theo tám bậc.

So với khung năng lực số châu Âu, thì điểm khác biệt lớn nhất trong khung năng lực số Việt Nam là mô tả năng lực về trí tuệ nhân tạo thành một module riêng, nhằm triển khai đào tạo và quản lý. Trong khi DigComp của châu Âu tích hợp trí tuệ nhân tạo vào mỗi năng lực, mô tả và đánh giá chi tiết hơn.

Hình 8. Khung năng lực số dành cho người học theo thông tư 02/2025/TT-BGDĐT.

4. Giải pháp

Trước thực trạng sinh viên tiếp cận với công nghệ thông tin và truyền thông khá sớm nhưng ở mức độ không sâu, thì việc tích hợp khung năng lực số vào chương trình đào tạo một cách hệ thống là điều cần thiết. Mặc khác, quá trình chuyển đổi số cần nguồn nhân lực có các năng lực chủ chốt như đạo đức trong sử dụng AI, tư duy phản biện, sáng tạo và giải quyết vấn đề ở mức độ nâng cao. Vì vậy, để có thể giúp sinh viên hoàn thiện năng lực số trong thời đại trí tuệ nhân tạo, các giải pháp cần phải được tiến hành đồng bộ, có hệ thống, có sự phối hợp giữa người dạy, người học và nhà quản lý giáo dục và phải được triển khai dựa trên khung năng số của quốc gia và chỉ số SDG 4.4.1.

        Về phía người dạy

Người dạy là nhân tố quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực số cho sinh viên. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực số cho người dạy là điều hết sức cần thiết. Đội ngũ giảng viên cần phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy, đặc biệt là dạy học theo dự án, giúp người học phát triển tư duy, kỹ năng sống và kỹ năng giải quyết vấn đề.

        Về phía người học

Người học cần tăng cường tính chủ động, hoàn thiện kiến thức nền tảng về công nghệ thông tin và truyền thông. Người học phải nhận thức được các nguyên tắc trong sử dung trí tuệ nhân tạo để học tập, tự rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề bằng tư duy sáng tạo. Đây là yếu tố hình thành nền tảng đạo đức số - một điều kiện thiết yếu để có thể trở thành công dân số, đáp ứng yêu cầu trong thị trường lao động hiện đại.

        Về phía nhà quản lý giáo dục

Nhà quản lý giáo dục cần quyết định cách tích hợp năng lực số vào chương trình đào tạo các cấp, không để người dạy thực hiện theo kiểu tự phát. Nhà quản lý cần hiểu rằng "giảng viên là người dẫn đường", nếu giảng viên không có năng lực số, sinh viên không thể phát triển năng lực số. Vì vậy cần có các khóa tập huấn định kỳ, có chính sách khen thưởng cho giảng viên tiên phong trong việc đổi mới phương pháp dạy học số.

Bên cạnh đó, nhà trường cần mở rộng hợp tác chiến lược với doanh nghiệp, ký kết với các tập đoàn công nghiệp để đưa sinh viên đi thực tập trong môi trường số thực tế, đồng thời tổ chức các cuộc thì sáng tạo để tạo điều kiện cho sinh viên ứng dụng năng lực số giải quyết các bài toán thực tế của doanh nghiệp.

5. Kết luận

Năng lực số không chỉ là một tập hợp các nhóm kỹ năng, mà còn là nền tảng của công dân trong kỷ nguyên số, đặc biệt trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Việc hoàn thiện năng lực số cho sinh viên cần được coi là chiến lược của giáo dục đại học ở Việt Nam, không phải theo phong trào. Sinh viên cần được trang bị đầy đủ hành trang để sau khi tốt nghiệp có thể bước vào một thế giới việc làm, nơi mà kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo là vô cùng cần thiết. Đây không chỉ là trách nhiệm của người học, người dạy, mà là trách nhiệm phối hợp của cả hệ thống giáo dục, doanh nghiệp và Nhà nước.

Tài liệu tham khảo

[1]   Bộ Thông tin và Truyền thông, Sách Trắng Công nghiệp Công nghệ thông tin Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2024.

[2]   Cục thống kê, Niên giám thống kê 2024, Nxb Thống kê, 2024

[3]   Cosgrove, J. and Cachia, R., DigComp 3.0: European Digital Competence Framework - Fifth Edition, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2025, https://data.europa.eu/doi/10.2760/0001149, JRC144121.

[4]   Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khung năng lực số cho người học, Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT, 2025.

[5]   https://sustainabledevelopment.un.org/sdg4

[6]   https://data.worldbank.org

Ý kiến bạn đọc
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG ANH  TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM: PHÂN TÍCH  SO SÁNH THEO LOẠI HÌNH VÀ KHU VỰC
Phạm Thị Hoa Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương “đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các trường học”, cụ thể đối với bậc học đại học trong các cơ sở giáo dục đại học, việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu chiến lược quốc gia. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, dựa trên dữ liệu khảo sát toàn quốc theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc báo cáo việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh, nghiên cứu chỉ ra những xu hướng phát triển đáng chú ý: số lượng chương trình tiếng Anh tăng cường tăng 191%, chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tăng 123%. Số lượng các chương trình tiếng Anh tăng phản ánh nỗ lực mạnh mẽ trong quốc tế hóa giáo dục đại học. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập về quy mô đội ngũ, trình độ học vị, phương pháp triển khai và khả năng ứng dụng công nghệ, cũng như sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực về nguồn lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên. Những khó khăn chủ yếu bao gồm trình độ tiếng Anh đầu vào không đồng đều , thiếu giảng viên chất lượng cao, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển năng lực ngoại ngữ trong giáo dục đại học Việt Nam. Từ khóa: Dạy học tiếng Anh; Giáo dục đại học; Chương trình tiếng Anh tăng cường; Quốc tế hóa giáo dục; So sánh loại hình trường. Nhận bài: 14/3/2026; Biên tập: 14/3/2026: Duyệt đăng: 15/3/2026
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).