Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động, hình thành Phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
Trong thực tiễn dạy học hiện nay, từ ở bậc phổ thông cho đến đại học, nhìn chung, người học vẫn học tập theo kiểu đọc chép, nghe ghi, học tập một cách thụ động, đối phó. Mặc dù đã có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuộc họp của các nhà quản lí, chỉ đạo giáo dục ở cả cấp trung ương, ở địa phương và đặc biệt ở tất cả các nhà trường từ cấp học mầm non đến đại học phong trào đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được quan tâm hàng đầu, nhưng giữa lời nói, sự hô hào (lí thuyết) và thực tiễn vẫn còn một khoảng cách lớn. Nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới PPDH đối với GV nói riêng và với những người làm giáo dục nói chung không phải là vấn đề khó, mọi người đều tương đối thông suốt, quán triệt, nhưng thực hiện đổi mới PPDH một cách tự giác, bài bản, khoa học, thực chất, thực sự không dễ dàng. Qua trao đổi với những người đứng lớp ở các cấp, chúng tôi nhận thấy phần đông GV đều cho rằng, phải đổi mới PPDH, chỉ có đổi mới PPDH mới nâng cao được chất lượng đào tạo. Nhưng, đổi mới như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Đánh giá một giáo án, một giờ dạy theo đổi mới PPDH dựa vào tiêu chí nào là chính? ... Còn rất nhiều điều phải bàn thảo. Câu chuyện về đổi mới PPDH thật sự nan giải, không thể là câu chuyện của ngày một, ngày hai là có thể giải quyết cho có kết quả tốt đẹp được. Đổi mới PPDH là một quá trình, một quá trình có sự nghiên cứu, chỉ đạo sâu sát, có diện, có điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, điều chỉnh, rồi tổng kết, đánh giá, và lại tiếp tục triển khai…Trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện đổi mới PPDH, theo chúng tôi, một nội dung / vấn đề cơ bản cần được chú ý chính là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học/ người học/ học sinh. Giúp HS khắc phục kiểu học tập thụ động, bồi dưỡng cho họ phương phá học tập tích cực, chủ động, sáng tạo vừa là con đường, cách thức, vừa là mục đích của đổi mới PPDH. Vấn đề người học luôn luôn là đề tài nghiên cứu không bao giờ cũ của quá trình dạy học, quá trình giáo dục bởi người học là sản phẩm cụ thể, một thế giới sinh động của một hoàn cảnh xã hội lích sử nhất định, không lặp lại. Trong lịch sử giáo dục, lịch sử dạy học đã có thời kì, có lúc chúng ta hiểu một cách đơn giản, máy móc người học, coi họ như cái bình chứa kiến thức cho nên khi dạy đã nhồi nhét, áp đặt kiến thức cho họ. Đương nhiên, dạy học như vậy sẽ không thể nâng cao được chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục.
Thế nào là học tập thụ động?
Học tập là một dạng hoạt động, một loại lao động đặc biệt của con người trong xã hội loài người. Học tập, học hành là một quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích của con người để từ đó hình thành và phát triển nhân cách của mình. Ngày xưa, “nhân vô học bất tri lí”. Ngày nay, học tập được coi là một gía trị sống quan trọng nhất của con người, là quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội tiến bộ. Con người sống phải học tập, học tập suốt đời. Mục đich của học là : học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống.
Học tập thụ động là kiểu học tập mà người học chủ yếu lấy sự ghi nhớ kiến thức, ghi nhớ lời giảng của GV, ghi nhớ sách một cách máy móc làm điêu cốt lõi. Lao động học trong học thụ động luôn luôn bị phụ thuộc, ràng buộc, chi phối bởi các yếu tố ở bên ngoài người học (người GV, tài liệu, thời gian,…). Cũng có người cho rằng học thụ động là kiểu học mà người học lệ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố người GV, tài liệu (đặc biệt là SGK), thời gian học và không gian của lớp học. Sự làm chủ của người học khó có thể được phát huy khi con người trong tâm thế học tập thụ động. Hệ quả của học thụ động là học để mà học (chứ không phải học để hành, học để làm, học để biến đổi bản than và hoàn cảnh). Có thể coi học vẹt là một biểu tượng điển hình của học thụ động. Người học thuộc lòng chữ nghĩa, nhớ lời giảng dạy của GV, nhớ bài trong SGK một cách máy móc, song sự hiểu, giảng giải, cắt nghĩa, liên hệ, vận dụng các kiến thức đó để giải bài toán thực tiễn trong học tập và trong cuộc sống thì người học khó mà thực hiện được.
Học tập chủ động là quá trình người học tìm tòi, khám phá, phát hiện, kiến tạo, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin. Trong quá trình đó người học tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất nhân cách của mình một cách đúng đắn, cao đẹp. Mục đich học tập của người học rất rõ ràng: học để có được các năng lực (năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực làm việc,…) và các kĩ năng trong cuộc sống, làm việc, ứng xử, giao tiếp, hòa nhập,… Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai, Kiến thức đã học thực sự là cần thiết bổ ích cho bản thân người học và cần thiết cho cộng đồng cũng như sự phát triển của xã hội. Học tập chủ động sẽ giúp người học có nhiều khả năng, nhiều phương án lựa chọn và giải quyết những nội dung học tập phù hợp, không viển vông xa thực tế, không thuộc lòng chữ nghĩa theo kiểu lí thuyết suông. Học tập chủ động là một dạng hoạt động nhận thức tích cực. Hoạt động nhận thức, tìm tòi, một dạng hoạt động tích cực của con người phản ánh và tái hiện sự vật, hiện thực khách quan vào trong tư duy, khám phá và nhận biết bản chất của sự vật khách quan, những mối quan hệ có tính biện chứng, tính quy luật của thực tiễn để thích ứng với hiện thực khách quan và cải tạo nó nhằm phục vụ lợi ích cao đẹp của con người, Ngày nay, trong bối cảnh sự phát triển của xã hội hiện đại, nền kinh tế tri thức phát triển thì học tập nói chung là một trong những dạng hoạt động nhân thức chủ yếu của con người trên con đường khám phá và chinh phục tự nhiên, đồng thời là tự phát triển và hoàn thiện bản thân mình.
Để hình thành PP học tập tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS cần:
- Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong quá trình dạy học: Ngày nay
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin trên tất cả các lĩnh vực, sự hội nhập và toàn cầu hóa đang là xu hướng tất yếu của thời đại, cho nên giáo dục và đào tạo cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp. Người học trong thời đại ngày nay khác xa với người học cách nay vài thập kỉ. Vì vậy, ngày nay, quá trình daỵ học chủ yếu không phải là truyền thụ kiến thức và chứng minh chân lí có sẵn mà quá trình dạy học, về bản chất, là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Dạy học là dạy học sinh cách tìm ra chân lí, dạy họ phương pháp suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, dạy họ cách tự học, tự học suốt đời. Kiểu dạy học ở trên lớp GV chủ yếu thuyết giảng, thuyết giảng từ đầu giờ học cho đến khi hết giờ, GV thể hiện tất cả sự hiểu biết, sự uyên bác của mình trước tập thể HS, GV độc diễn ở trên lớp,…không còn phù hợp với dạy học ngày nay. Dù trong giờ học đó HS có bị cuốn hút nhưng sự hấp dẫn tức thời đó cũng sẽ qua ngay. HS ngày nay với thế giới nội tâm vô cùng đa dạng, phong phú, nhạy cảm, họ tiếp nhận thông tin bằng nhiều cách, nhiều con đường, cho nên trong lớp học mà thụ động, bị động ngồi nghe thầy thuyết giảng, họ sẽ bị ức chế, nghĩa là giờ học sẽ không đem lại cho họ những điều mới mẻ, không khơi gợi được trong tâm trí họ niềm tin và sự khát khao vươn tới những ước mơ cao đẹp. Dạy học là thắp sáng ở người học những chân trời mới mẻ chứ không phải là nhồi nhét kiến thức cho HS một cách nhàm chán.
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
- Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp ( đàm thoại, hỏi đấp) là phương pháp không mới trong dạy học. Đó là PP mà giáo viên đặt ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận, bàn thảo, trao đổi với nhau và với cả GV. Nhờ tranh luận, trao đổi HS lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi, yêu cầu HS nhớ lại (tái hiện) kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ là chính, ít suy luận. Vấn đáp tái hiện là phương pháp ít có giá trị sư phạm tích cực. Vấn đáp tái hiện được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài, chủ
đề, nội dung nhất định, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ (luận chứng) để HS dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn.
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được
sắp xếp hợp lý, khoa học để giúp HS từng bước phát hiện, tìm ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. GV tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa GV với cả lớp, có khi giữa HS với HS, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, GV là người tổ chức, dẫn dắt sự tìm tòi, còn HS dưới sự hướng dẫn của GV tự lực phát hiện kiến thức mới. Nhờ vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui, sự hứng khởi của việc khám phá, trình độ tư duy của họ được phát triển them một bước.
b. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
Hiện nay, khi xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, có sự quản lí của nhà nước, yếu tố cạnh tranh ngày càng gay gắt thì biết phát hiện sớm và giải quyết hợp lý, kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, nhất là đối với lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, giúp cho HS sự trải nghiệm, biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở góc độ phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu quan trọng của giáo dục và đào tạo.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
aXây dựng tình huống có vấn đề;
aPhát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
aPhát hiện, nêu vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
aĐề xuất cách giải quyết;
aXác đinh phương án, kế hoạch giải quyết;
aThực hiện kế hoạch giải quyết.
- Kết luận:
aThảo luận kết quả và đánh giá;
aKhẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
aKết luận, nhận định;
aĐề xuất vấn đề mới.
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng đánh giá.
Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề. GV và HS cùng đánh giá.
Mức 4 : HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
|
Các mức |
Đặt vấn đề |
Nêu giả thuyết |
Lập kế hoạch |
Giải quyết vấn đề |
Kết luận, đánh giá |
|
1 |
GV |
GV |
GV |
HS |
GV |
|
2 |
GV |
GV |
HS |
HS |
GV + HS |
|
3 |
GV + HS |
HS |
HS |
HS |
GV + HS |
|
4 |
HS |
HS |
HS |
HS |
GV + HS |
Thực hiện dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được, hiểu được tri thức mới, vừa nắm được cách lĩnh hội tri thức đó, phát triển được tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
- Phương pháp hoạt động nhóm
Theo PP này, lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu, nội dung của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
· Làm việc chung cả lớp :
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
· Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
· Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
-Thảo luận chung
-GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên GV phải biết tổ chức hợp lý và HS đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.
- Mở rộng hình thức học tập: Để buổi học không bị khô cứng, máy móc, để
tạo hứng thú học tập cho HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học, không gian và thời gian của lớp học có thể được thay đổi, tùy theo nội dung cụ thể của bài học. Theo đó, hình thức học tập có thể không phải trong khuôn viên của 4 bức tường lớp học với bảng đen, bàn ghế GV, với hai, ba dãy bàn ghế của HS ngồi học được sắp xếp tuần tự, hàng lối quy chuẩn mà hàng ngày và nhiều năm các em đã học trong không gian như vậy. Thời gian học tập của bài học, tiết học cũng có thể không cứng nhắc, bất biến theo trình tự được sắp xếp trong giáo án của GV. Giờ học có thể được tổ chức ở trong bảo tàng (bảo tàng lịch sử, bảo tàng quân đội, bảo tàng phụ nữ, bảo tàng mĩ thuật, bảo tàng dân tộc), trong thư viện, ở nhà lưu niệm danh nhân, đài tưởng niệm anh hùng, đền thờ các vị anh hùng, nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa, nơi đường phố, địa danh, nhà máy, công xưởng, hoặc gặp gỡ những nhân chứng sống của những sự kiện trọng đại, gặp gỡ người tốt, việc tốt, v.v..Giờ học như vậy sẽ rất thân thiện với HS, tạo cho HS sự thoải mái, không bị gò bó, nhờ vậy các em sẽ hứng thú hơn trong tiếp nhận, khám phá tri thức, sự kiện. Bên cạnh đó, việc tự học và học ở nhà của HS cũng phải được mở rộng và linh hoạt hơn. GV hướng dẫn HS ngoài giờ học chính khóa ở lớp, có thể tự học ở nhiều nơi, bằng nhiều cách miễn là việc học tập đó của HS phải trên tinh thần tự giác, có chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, cũng không được lạm dụng và thái quá việc mở rộng hình thức học tập, hoặc mở rộng hình thức học tập chỉ mang tính hình thức (có những nội dung buộc phải học ở lớp, ở trong phòng thí nghiệm).
Tóm lại, có nhiều cách để giúp HS khắc phục tiến tới xóa bỏ kiểu học tập thụ động, từ đó, bồi dưỡng hình thành cho họ phương pháp học tập tich cực, chủ động, sáng tạo. Một số nội dung chúng tôi trình bày ở trên chỉ mang tính chất gợi ý để cùng suy nghĩ, trao đổi.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội.
- Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết 29 – NQ TW 8, khóa XI về
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đầp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.
- Vương Bân Thái (chủ biên) (2014), Hiện đại hóa giáo dục, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
PGS. TS Nguyễn Gia Cầu