1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐÁP ỨNG VIỆC GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ, KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

06:57 | 05/01/2026
aA

 

TS Hồ Thị Hồng Cúc -

Khoa Giáo dục Chính trị và quản lý giáo dục,

Trường Đại học Đồng Tháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, giảng dạy lý luận chính trị trong các cơ sở giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng nhận thức và hành động cho sinh viên. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong kỷ nguyên số, đồng thời đánh giá khái quát thực trạng đội ngũ hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: giảng viên lý luận chính trị; chuyển đổi số; kỷ nguyên vươn mình; giáo dục đại học; phát triển đội ngũ.

1. Đặt vấn đề

Giảng dạy lý luận chính trị (LLCT) trong các trường đại học, cao đẳng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lý tưởng sống và trách nhiệm công dân cho thế hệ trẻ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia, việc giảng dạy LLCT không chỉ chịu tác động mạnh mẽ của sự phát triển khoa học công nghệ mà còn đứng trước nhiều thách thức mới về phương thức truyền đạt, nội dung và hiệu quả giáo dục, Đảng ta xác định:“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”[1]. Điều đó, đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ giáo dục LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học, yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ giáo dục LLCT, trong đó phát triển đội ngũ giảng viên LLCT vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có năng lực chuyên môn, năng lực số và phương pháp sư phạm hiện đại. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên LLCT đáp ứng yêu cầu mới vì thế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2. Nội dung

2.1 Yêu cầu mới đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong kỷ nguyên số

Yêu cầu về bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức: Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá trên không gian mạng, giảng viên LLCT phải là lực lượng tiên phong trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định: “Giáo dục LLCT phải đi trước một bước trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin và định hướng nhận thức xã hội” [2]. Điều này đòi hỏi giảng viên không chỉ nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng mà còn có lập trường chính trị vững vàng, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức trong sáng.

Yêu cầu về năng lực chuyên môn và cập nhật tri thức: Kỷ nguyên số tạo ra sự bùng nổ thông tin và tri thức. Giảng viên LLCT cần thường xuyên cập nhật các vấn đề lý luận mới, những thành tựu thực tiễn của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước; đồng thời gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đời sống xã hội. Năng lực nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và công bố kết quả nghiên cứu trở thành yêu cầu tất yếu đối với giảng viên LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học. C. Dimmock và Allan Walker (2005) một nhà nghiên cứu về GDHN người Úc cho rằng: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động vừa có tri thức”.

Yêu cầu về năng lực số và phương pháp sư phạm hiện đại: Chuyển đổi số trong giáo dục đặt ra yêu cầu giảng viên LLCT phải thành thạo công nghệ thông tin và phương pháp dạy học hiện đại. OECD cho rằng: “Giáo dục trong kỷ nguyên số đòi hỏi đội ngũ giảng viên không chỉ có tri thức chuyên môn mà còn phải làm chủ công nghệ và đổi mới phương pháp sư phạm” [8]. Bên cạnh đó, giảng viên cần đổi mới phương pháp theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường thảo luận, tranh biện, học tập trải nghiệm và phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh viên.

2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị hiện nay

2.2.1 Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị (LLCT) ở các trường đại học, cao đẳng trên phạm vi cả nước đã có sự phát triển rõ nét cả về quy mô và chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu giảng dạy trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học và chuyển đổi số. Theo tổng hợp từ các báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “...đến năm 2023, trên 95% giảng viên giảng dạy các học phần LLCT có trình độ sau đại học, trong đó khoảng 28–30% đạt trình độ tiến sĩ”[3]; hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đã bố trí đủ giảng viên LLCT theo quy định về chương trình đào tạo.

Trình độ LLCT và chuyên môn của đội ngũ giảng viên LLCT từng bước được chuẩn hóa. Giai đoạn 2018–2023, mỗi năm có khoảng 1.500–2.000 lượt giảng viên LLCT tham gia các lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới, bồi dưỡng cao cấp LLCT và phương pháp giảng dạy do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo tổ chức. Điều này góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực giảng dạy và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn của đội ngũ giảng viên.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên LLCT có nhiều chuyển biến tích cực. Theo thống kê, giai đoạn 2020–2023, mỗi năm có hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học các cấp liên quan đến lĩnh vực giáo dục LLCT, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai trong các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín trong nước, góp phần làm phong phú cơ sở khoa học cho hoạt động giảng dạy, “Nghiên cứu khoa học là con đường quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị và tăng tính thuyết phục của bài giảng”[4].

Công tác biên soạn giáo trình, tài liệu và học liệu số phục vụ giảng dạy LLCT được đẩy mạnh. Thực hiện chương trình, giáo trình các môn LLCT mới, nhiều trường đại học đã tổ chức rà soát, chỉnh lý và xây dựng giáo trình phù hợp với đối tượng người học. Một số cơ sở đào tạo đã triển khai hệ thống học liệu điện tử, bài giảng E-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy học kết hợp. Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng: “Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn là sự thay đổi căn bản trong cách tổ chức dạy và học”[6].

Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đội ngũ giảng viên LLCT tại các trường đại học địa phương trong những năm gần đây cũng có bước tiến tích cực. Theo báo cáo tổng kết của các trường, trên 90% giảng viên LLCT có trình độ sau đại học; nhiều giảng viên trẻ được cử đi đào tạo tiến sĩ, tham gia các lớp bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy và ứng dụng công nghệ số. Tuy còn khó khăn về điều kiện nghiên cứu và công bố quốc tế, song đội ngũ giảng viên LLCT khu vực này đã từng bước thích ứng với yêu cầu đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị – tư tưởng cho sinh viên địa phương.

2.2.2 Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, đội ngũ giảng viên LLCT hiện nay vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới giáo dục và chuyển đổi số.

Chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT giữa các cơ sở giáo dục đại học và giữa các vùng, miền còn chưa đồng đều. Theo các báo cáo tổng kết, tại một số trường đại học địa phương, tỷ lệ giảng viên LLCT có trình độ tiến sĩ mới đạt khoảng 10–15%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung của cả nước (khoảng 28–30%). Số lượng giảng viên kiêm nhiệm còn tương đối lớn, ảnh hưởng đến chiều sâu chuyên môn và khả năng nghiên cứu khoa học.

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng công nghệ số chưa thực sự đồng bộ. Kết quả khảo sát tại một số cơ sở giáo dục đại học cho thấy chỉ khoảng 40–50% giảng viên LLCT thường xuyên sử dụng học liệu số, lớp học trực tuyến hoặc các hình thức dạy học tích cực có hỗ trợ công nghệ. Phần còn lại vẫn chủ yếu giảng dạy theo phương pháp truyền thống, làm giảm tính tương tác và mức độ hứng thú học tập của sinh viên. Như UNESCO nhận định: “Khoảng cách năng lực số của đội ngũ giảng viên đang là một trong những thách thức lớn đối với giáo dục trong kỷ nguyên số” [7].

Năng lực ngoại ngữ và năng lực nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế của đội ngũ giảng viên LLCT còn hạn chế. Số bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số công bố khoa học; khả năng tiếp cận các tài liệu nghiên cứu nước ngoài và tham gia mạng lưới học thuật quốc tế chưa cao. Điều này phần nào ảnh hưởng đến năng lực hội nhập học thuật và cập nhật các xu hướng nghiên cứu mới.

Nội dung giảng dạy LLCT ở một số cơ sở đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, chưa gắn kết chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội và các vấn đề thời sự. Việc liên hệ thực tiễn, đưa các tình huống cụ thể vào bài giảng chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao và chưa phát huy đầy đủ vai trò định hướng tư tưởng, chính trị của môn học.

2.3 Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy lý luận chính trị trong kỷ nguyên số

Một là. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục

Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về vai trò của giáo dục LLCT và đội ngũ giảng viên LLCT trong bối cảnh mới. Nhận thức đúng sẽ là tiền đề quan trọng để các cấp quản lý xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên LLCT một cách bài bản, lâu dài, tránh tư duy ngắn hạn, đối phó. Việc phát triển đội ngũ giảng viên LLCT cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển nhà trường, chiến lược chuyển đổi số và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hai là. Đổi mới công tác tuyển dụng, sử dụng và đánh giá giảng viên

Công tác tuyển dụng giảng viên LLCT cần được đổi mới theo hướng cạnh tranh, công khai, minh bạch, bảo đảm lựa chọn được những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu, năng lực sư phạm và khả năng thích ứng với môi trường số. Việc sử dụng và đánh giá giảng viên cần dựa trên chuẩn năng lực nghề nghiệp, gắn với hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu khoa học, mức độ ứng dụng công nghệ số và đóng góp vào các hoạt động chung của nhà trường. Đánh giá giảng viên không chỉ dựa vào giờ giảng mà cần chú trọng đến chất lượng bài giảng, phản hồi của người học và sản phẩm học thuật.

Ba là. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực toàn diện cho giảng viên

Đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp có ý nghĩa then chốt nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT. Cần xây dựng các chương trình bồi dưỡng thường xuyên về LLCT, cập nhật những vấn đề mới của thời đại, những thành tựu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước. Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng sư phạm hiện đại, kỹ năng thiết kế bài giảng số, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Khuyến khích giảng viên tham gia các khóa đào tạo trực tuyến, các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế nhằm mở rộng tầm nhìn và nâng cao năng lực hội nhập.

Bốn là. Đổi mới phương pháp giảng dạy LLCT theo hướng phát triển năng lực và số hóa

Đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục LLCT trong kỷ nguyên số. Giảng viên cần chuyển mạnh từ phương pháp truyền thụ một chiều sang các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Việc tổ chức thảo luận, tranh biện, phân tích tình huống, dạy học dự án và học tập trải nghiệm sẽ giúp sinh viên hình thành tư duy phản biện, năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh số hóa học liệu, xây dựng hệ thống bài giảng điện tử, ngân hàng câu hỏi, diễn đàn học tập trực tuyến, qua đó tạo môi trường học tập linh hoạt, mở và tương tác cao.

Năm là. Xây dựng môi trường học thuật và chính sách đãi ngộ phù hợp

Môi trường học thuật dân chủ, cởi mở là điều kiện quan trọng để khuyến khích giảng viên LLCT đổi mới sáng tạo và nghiên cứu khoa học. Các cơ sở giáo dục đại học cần tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí và cơ sở vật chất để giảng viên tham gia nghiên cứu, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng đối với giảng viên LLCT có nhiều đóng góp trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số, qua đó tạo động lực để đội ngũ giảng viên yên tâm công tác và gắn bó lâu dài với nghề.

3. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số và đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc phát triển đội ngũ giảng viên LLCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đội ngũ này giữ vai trò nòng cốt trong việc truyền bá nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng nhận thức, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và lý tưởng cách mạng cho sinh viên. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, đổi mới tuyển dụng và đánh giá, tăng cường đào tạo bồi dưỡng và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng số hóa sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT. Qua đó, đáp ứng yêu cầu giảng dạy trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2022), Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Chương trình chuyển đổi số ngành giáo dục giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.

[6] Phạm Minh Chính (2023), Chuyển đổi số quốc gia và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.

[5] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[7] UNESCO (2021), Reimagining our futures together: A new social contract for education, UNESCO Publishing, Paris.

[8] OECD (2020), Education in the Digital Age: Healthy and Happy Children, OECD Publishing, Paris.

[9] C. Dimmock và Allan Walker (2005) Nhà nghiên cứu về GDHN người Úc

SOLUTIONS FOR DEVELOPING A TEAM OF LECTURERS TO MEET THE NEEDS OF TEACHING POLITICAL THEORY

IN THE DIGITAL AGE, THE ERA OF NATIONAL PROGRESSION

Dr. Ho Thi Hong Cuc -

Faculty of Political Education and Educational Management,

Dong Thap University

 

Abstract: In the context of digital transformation and the nation entering an era of national progress, the teaching of political theory in higher education institutions is facing the need for strong innovation. The team of political theory lecturers plays a crucial role in disseminating the Party's ideological foundation and guiding students' awareness and actions. This article analyzes the new demands placed on the team of political theory lecturers in the digital age, while also providing an overview of the current state of the team. Based on this, the article proposes several key solutions to develop a team of lecturers that meets the requirements of teaching political theory in the current period.

Keywords: political theory lecturers; digital transformation; era of progress; higher education; team development.

 

 

Ý kiến bạn đọc
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA”  VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).