1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP SỐ CỦA HỌC VIÊN HỆ SƯ PHẠM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

06:56 | 13/04/2026
aA

 

Phạm Văn Duy, Doãn Duy Nhất

Hệ 2, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, học tập số trở thành xu thế tất yếu, góp phần đổi mới phương thức đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục. Bài viết tập trung phân tích thực trạng chất lượng học tập số của học viên Hệ Sư phạm tại Học viện Chính trị, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp như nâng cao nhận thức, phát triển năng lực số cho học viên, hoàn thiện hạ tầng công nghệ và tăng cường vai trò của các tổ chức. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin và xây dựng môi trường học tập số hiệu quả, phù hợp với đặc thù quân đội. Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Từ khóa: Học tập số; chất lượng học tập số; đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự; Học viện Chính trị.

1. Đặt vấn đề:

“Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội là một trong các đột phá quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn tiên phong góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1 là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta hiện nay. Trong bối cảnh đó học tập số được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Học tập số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, mà còn góp phần hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết để quân nhân thích ứng với môi trường làm việc ngày càng hiện đại và toàn cầu. Đối với giáo dục và đào tạo, học tập số trở thành một phương thức quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả học tập, thúc đẩy khả năng tự học, tự nghiên cứu và học tập suốt đời của người học.

Đối với các nhà trường quân đội nói chung, Học viện Chính trị nói riêng, học tập số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, đồng thời có năng lực thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ. Đối tượng học viên đào tạo KHXH&NV quân sự là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, đào tạo của Quân đội, giữ vai trò trực tiếp truyền bá tri thức, định hướng tư tưởng và phát triển năng lực cho người học. Trong thời gian qua, Học viện Chính trị đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, từng bước nâng cao chất lượng học tập số đối với học viên hệ đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự, tạo ra những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, chất lượng học tập số của học viên hệ đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định. Đặc biệt, việc rèn luyện và phát triển kỹ năng số chưa thực sự đồng bộ; mức độ chủ động, tự giác trong học tập số giữa các học viên còn khác nhau, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và nghiên cứu trong môi trường số hóa. Do đó, việc nâng cao chất lượng học tập số, trước hết là phát triển kỹ năng số và năng lực sử dụng công nghệ số của học viên, trở thành yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên KHXH&NV quân sự vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

2. Thực trạng chất lượng học tập số của học viên Hệ Sư phạm ở Học viện Chính trị hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong Quân đội và lĩnh vực giáo dục - đào tạo, học tập số với trọng tâm là rèn luyện kỹ năng số, ngày càng được học viên nhận thức rõ hơn như một yêu cầu gắn liền với chuẩn hóa năng lực giảng viên và thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thực tiễn cho thấy, nhiều học viên đã từng bước vượt qua tâm lý e ngại công nghệ, chuyển từ cách tiếp cận mang tính bị động sang chủ động hơn trong việc tiếp cận và rèn luyện kỹ năng số phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học và công tác chuyên môn. Học viên đã từng bước làm chủ những công cụ, thiết bị, phần mềm số sẵn có, khai thác, sử dụng mạng nội bộ, mạng internet và thư viện điện tử phục vụ cho học tập, công tác có hiệu quả. Vận dụng hiệu quả các kỹ năng số vào thực tiễn học tập, công tác. Trong quá trình học tập số, học viên cơ bản sử dụng các thiết bị công nghệ và các nền tảng số đúng mục đích học tập, nghiên cứu; hạn chế những biểu hiện sử dụng Internet thiếu kiểm soát, vi phạm quy định về kỷ luật thông tin hoặc chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, thực tiễn cũng cho thấy những hạn chế nhất định. còn một số cá nhân nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện về nội dung, hình thức học tập số hiện nay, chưa nắm vững những quy tắc an toàn khi tham gia tương tác trên môi trường Internet. Trình độ kỹ năng số của học viên tuy đã có bước phát triển, nhưng chưa đồng đều, chưa thật sự vững chắc và chưa đáp ứng tốt yêu cầu học tập, nghiên cứu khoa học và chuẩn bị nghề nghiệp.

3. Giải pháp cơ bản nâng cao nâng cao chất lượng học tập số của học viên Hệ Sư phạm ở Học viện Chính trị hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và động lực học tập số của các chủ thể

Đây là giải pháp trung tâm, có tính nền tảng, giữ vai trò định hướng và chi phối trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ các giải pháp khác. Nhận thức về học tập số cần được đặt trong tổng thể xu thế phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, quân đội và giáo dục - đào tạo. Đối với học viên hệ đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự, học tập số không chỉ là một yêu cầu mang tính kỹ thuật, mà là một nội dung cấu thành năng lực nghề nghiệp cốt lõi của KHXH&NV quân sự trong tương lai. Do đó, mỗi học viên cần nhận thức và có trách nhiệm trong việc làm chủ tri thức và kỹ năng số chính là điều kiện để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời khẳng định uy tín nghề nghiệp trong môi trường giáo dục hiện đại. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, mà trực tiếp là Nghị quyết 57 - NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Động lực học tập nội sinh là yếu tố quyết định tính bền vững và hiệu quả của học tập số. Đây không chỉ là ý thức trách nhiệm mà còn là nhu cầu tự thân, hứng thú và khát vọng phát triển nghề nghiệp của mỗi học viên. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), yêu cầu đối với năng lực số ngày càng cao, nếu không chủ động học tập số, học viên sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu về tri thức, hạn chế về năng lực giảng dạy và giảm sút uy tín nghề nghiệp trong tương lai.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp và phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan các chức năng trong tổ chức, quản lý học tập số.

Đây là giải pháp quan trọng, giữ vị trí then chốt, là nền tảng trực tiếp bảo đảm cho việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng học tập số. Trong điều kiện chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, học tập số cần được xác định là một nội dung trọng tâm trong nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hóa năng lực đội ngũ giảng viên KHXH&NV quân sự. Do đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp giữ vai trò quyết định, định hướng toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện. Nội dung học tập số cần được cụ thể hóa rõ ràng trong nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác và chương trình hành động của từng cấp, bảo đảm tính thống nhất, xuyên suốt và phù hợp với từng giai đoạn đào tạo. Các cơ quan chức năng như Phòng Đào tạo, Phòng Chính trị, Phòng Khoa học quân sự, giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, xây dựng cơ chế, chính sách và tổ chức triển khai học tập số. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan cần chủ động nghiên cứu, đề xuất và ban hành các kế hoạch, chương trình về chuyển đổi số nói chung và học tập số nói riêng; xây dựng hệ thống quy định, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù đào tạo của Học viện.

Các tổ chức quần chúng, đặc biệt là tổ chức đoàn, giữ vai trò quan trọng trong giáo dục, tuyên truyền, tạo môi trường và động lực thúc đẩy học tập số trong học viên. Thông qua các hoạt động phong trào, sinh hoạt chuyên đề, chi đoàn có thể từng bước xây dựng môi trường học tập số sôi nổi, tạo khí thế thi đua, khơi dậy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ. Đặc biệt, tổ tư vấn kỹ năng số cần phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong học tập số; trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn, kèm cặp học viên; xây dựng các mô hình điểm, quy trình thao tác mẫu; đồng thời lan tỏa kinh nghiệm, phương pháp học tập hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, nơi nào phát huy tốt vai trò của các lực lượng này, nơi đó phong trào học tập số phát triển mạnh mẽ, có chiều sâu và bền vững.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp và đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập số.

Đây là giải pháp quan trọng, có ý nghĩa đột phá, tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình học tập số. Nội dung học tập số cần được thiết kế trên cơ sở bám sát định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phù hợp với đặc thù đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự. Theo đó, nội dung cần tập trung vào các nhóm kỹ năng cốt lõi như: khai thác, xử lý và phân tích dữ liệu học thuật; thiết kế học liệu và bài giảng số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học; bảo đảm an toàn thông tin trong môi trường số và nâng cao văn hoá số. Trong thực tiễn, nội dung học tập số ở một số thời điểm còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa phân hóa theo trình độ, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Vì vậy, cần xây dựng nội dung theo lộ trình từ cơ bản đến nâng cao, bảo đảm tính hệ thống, tính liên thông và khả năng ứng dụng thực tiễn; tránh tình trạng học tập hình thức, chạy theo phong trào mà thiếu chiều sâu và không sát thực tiễn.

Phương pháp học tập số cần chuyển mạnh từ cách học rời rạc, tự phát sang tổ chức quá trình học tập có định hướng, có mục tiêu cụ thể và có sản phẩm đầu ra rõ ràng. Trong đó, học viên được hướng dẫn xây dựng lộ trình rèn luyện kỹ năng số phù hợp với trình độ, chuyên ngành và nhiệm vụ đào tạo; đồng thời được định hướng cách thức khai thác, lựa chọn, xử lý và vận dụng tri thức số một cách hiệu quả.

Bên cạnh hình thức tự học trên môi trường số, cần tăng cường các hình thức hỗ trợ và tổ chức học tập đa dạng như: tập huấn chuyên đề; sinh hoạt học thuật về kỹ năng số trong chi bộ, chi đoàn; tổ chức các tổ, nhóm học tập số linh hoạt theo chuyên ngành, trình độ; phát triển các mô hình học tập cộng tác trên nền tảng số.Việc đa dạng hóa hình thức học tập không chỉ tạo điều kiện để học viên tiếp cận tri thức một cách toàn diện mà còn góp phần xây dựng môi trường học tập tích cực, thúc đẩy sự trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa phương pháp học tập hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, những đơn vị tổ chức tốt các hình thức học tập tập thể, học tập cộng tác thường có kết quả học tập số cao hơn, đồng đều và bền vững hơn.

Cùng với đó là xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng, khoa học, kết hợp giữa đánh giá quá trình và đánh giá kết quả; giữa tự đánh giá của học viên với đánh giá của giảng viên và cán bộ quản lý; đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra, đánh giá nhằm bảo đảm tính khách quan, chính xác và kịp thời. Thực tiễn hiện nay cho thấy, công tác đánh giá học tập số ở một số nơi còn nặng về hình thức, thiếu tiêu chí cụ thể, chưa phản ánh đúng năng lực thực chất của học viên, do đó cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức đánh giá.

Bốn là, phát huy tính tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học viên trong làm chủ tri thức số.

Đây là giải pháp quan trọng, mang tính lâu dài, giữ vai trò động lực nội sinh trực tiếp đối với toàn bộ quá trình học tập số. Tính tự giác và trách nhiệm là nền tảng hình thành thái độ học tập tích cực, bền vững. Mỗi học viên cần nhận thức sâu sắc rằng học tập số không chỉ là yêu cầu của chương trình đào tạo mà còn là nhu cầu tự thân gắn với quá trình phát triển năng lực nghề nghiệp, là điều kiện để nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong tương lai. Trên cơ sở đó, học viên hình thành thái độ học tập nghiêm túc, chủ động, kiên trì; sẵn sàng vượt qua khó khăn trong quá trình tiếp cận và làm chủ tri thức số.

Trong điều kiện môi trường số đa dạng và biến đổi nhanh chóng, năng lực tự học và tự tổ chức học tập giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở định hướng chung của tổ chức Đảng, cán bộ các cấp, mỗi học viên cần chủ động xác định mục tiêu học tập cụ thể, phù hợp với trình độ, chuyên ngành và định hướng nghề nghiệp; tự lựa chọn nội dung, công cụ và phương pháp tiếp cận tri thức một cách khoa học, hiệu quả. Đồng thời, học viên cần từng bước hình thành thói quen học tập có kế hoạch, có theo dõi, có điều chỉnh và có tích lũy; biết tự đánh giá kết quả học tập để kịp thời điều chỉnh phương pháp phù hợp.

Tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng giúp học viên không chỉ tiếp thu tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt, tạo ra giá trị mới trong học tập và nghiên cứu. Trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, học viên cần vượt qua cách tiếp cận thụ động, chỉ sử dụng công cụ theo hướng dẫn, để chủ động tìm tòi, thử nghiệm, kết hợp các công cụ số nhằm xây dựng phương pháp học tập, nghiên cứu mới, hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích học viên thường xuyên cập nhật tri thức, phương pháp mới; học hỏi kinh nghiệm từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài đơn vị; mạnh dạn đề xuất ý tưởng, cách làm mới trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Năm là, xây dựng môi trường học tập kỹ năng số lành mạnh gắn với bảo đảm điều kiện hạ tầng và an toàn thông tin trong Học viện.

Đây là giải pháp quan trọng, có ý nghĩa lâu dài, giữ vai trò là điều kiện bảo đảm trực tiếp cho việc triển khai hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng học tập số. Xây dựng môi trường học tập số và bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin chính là nền tảng vật chất - kỹ thuật và không gian vận hành để quá trình học tập số diễn ra một cách ổn định, liên tục và bền vững. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần hình thành môi trường học tập hiện đại, chính quy, an toàn, phù hợp với đặc thù quân sự, tạo điều kiện thuận lợi để học viên phát huy năng lực, làm chủ tri thức số.

Môi trường học tập số cần được hiểu một cách toàn diện, không chỉ bao gồm hệ thống phòng học, trang thiết bị kỹ thuật, mà còn bao hàm các nền tảng quản lý học tập (LMS), hệ thống quy định, quy chế, kho học liệu số và không gian học tập trực tuyến an toàn. Việc xây dựng môi trường học tập số đồng bộ, thống nhất sẽ tạo điều kiện để học viên học tập thường xuyên, liên tục, có định hướng rõ ràng và dễ dàng tiếp cận tri thức số. Hạ tầng kỹ thuật là điều kiện vật chất trực tiếp quyết định khả năng triển khai học tập số. Do đó, cần tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống mạng nội bộ, bảo đảm tốc độ, độ ổn định và an toàn; trang bị đầy đủ thiết bị trình chiếu, máy tính dùng chung, phần mềm phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học.

Trong môi trường số, việc sử dụng công nghệ không chỉ đòi hỏi năng lực mà còn yêu cầu cao về ý thức trách nhiệm và bản lĩnh chính trị. Do đó, học tập số phải gắn liền với việc xây dựng văn hóa sử dụng công nghệ một cách an toàn, có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng và kỷ luật phát ngôn trên không gian số. Việc hình thành văn hóa học tập số lành mạnh sẽ giúp học viên vừa khai thác hiệu quả các nguồn tri thức số, vừa giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong của người cán bộ, giảng viên quân đội trong tương lai. Thực tiễn cho thấy, nếu thiếu ý thức về an toàn thông tin, học viên dễ bị tác động bởi thông tin sai lệch, thậm chí vi phạm quy định về bảo mật, do đó cần đặc biệt chú trọng giáo dục, quản lý và xây dựng thói quen học tập số đúng đắn.

4. Kết luận

Trong thời gian tới, trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; trước sự phát triển mạnh mẽ của chuyển đổi số trong giáo dục - đào tạo và yêu cầu chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo Quân đội; cùng với đó là sự tác động của các phong trào thi đua và định hướng phát triển của Học viện Chính trị, hoạt động học tập số của học viên hệ đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự, sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả hệ thống các giải pháp, trong đó chú trọng phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng của cấp uỷ, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ các cấp; đồng thời đề cao vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi học viên trong quá trình học tập số. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá và bảo đảm các điều kiện cần thiết về hạ tầng công nghệ, học liệu số và môi trường học tập. Thực hiện tốt các nội dung trên sẽ góp phần nâng cao thực chất chất lượng, hiệu quả học tập số của học viên hệ đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên KHXH&NV quân sự đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Chú thích:

1 Quân uỷ Trung ương (2025), Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025, Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Khoa học và công nghệ (2025), Hướng dẫn làm rõ định nghĩa, nội hàm, lượng hóa một số khái niệm mới trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 562/BKHCN-VCL, ngày 31/3/2025.
  2. Bộ Chính trị, Kết luận về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025, Hà Nội.
  3. Phùng Hải Châu (2023), “Nghiên cứu đề xuất giải pháp chuyển đổi số trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở Nhà trường quân đội”, Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam, số 4, 2023, tr.23 - 26.
  4. Bùi Duy Hùng (2025), “Năng lực chuyển đổi số của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội hiện nay”, Tạp chí Lý luận Chính trị, ngày 28/02/2025
  5. Quân uỷ Trung ương (2025), Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025, Hà Nội.

 

SOLUTIONS TO IMPROVE THE QUALITY OF DIGITAL LEARNING FOR PEDAGOGICAL TRAINEES AT THE POLITICAL ACADEMY TODAY

Pham Van Duy, Doan Duy Nhat
System 2, Political Academy
Email: [email protected]

Abstract: In the context of the rapid development of the Fourth Industrial Revolution, digital learning has become an inevitable trend, contributing to the innovation of training methods and the improvement of educational quality. This article focuses on analyzing the current state of digital learning quality among pedagogical trainees at the Political Academy, identifying achievements, limitations, and their underlying causes. Based on this analysis, several solutions are proposed, including raising awareness, developing learners’ digital competencies, improving technological infrastructure, and strengthening the role of relevant organizations. At the same time, the study emphasizes the necessity of ensuring information security and building an effective digital learning environment that aligns with the specific characteristics of the military. The research findings contribute to orienting the enhancement of training quality for lecturers in military social sciences and humanities, meeting the requirements of building the armed forces in the new context.

Keywords: Digital learning; digital learning quality; training of lecturers in military social sciences and humanities; Political Academy.

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).