GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Nguyễn Thị Phương Thanh
Trường Cao đẳng Kỹ thuật-Công nghệ Bách Khoa
Email:[email protected]
Tóm tắt: Chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp là yếu tố then chốt quyết định đối với năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trên cơ sở thực tiễn hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam, bài viết làm rõ những hạn chế trong mối quan hệ giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận “phù hợp với mục tiêu” để đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo với thị trường lao động, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Từ khoá: Chất lượng đào tạo; Giáo dục nghề nghiệp; Sự phù hợp với mục tiêu; Quản trị chất lượng; Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo; Cách mạng công nghiệp 4.0

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ cùng với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) giữ vai trò then chốt trong việc cung ứng nguồn nhân lực trực tiếp cho thị trường lao động. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số, đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu việc làm và yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống GDNN phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.
Thực tiễn cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển GDNN và đạt được những kết quả nhất định, song chất lượng đào tạo vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Theo báo cáo mới nhất từ Tổng cục Thống kê, tính riêng trong Quý I năm 2026, cả nước đã có khoảng 96 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường (trung bình mỗi tháng có 32 nghìn doanh nghiệp mới). Sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp đang tạo ra áp lực cực lớn về nhu cầu nhân lực chất lượng cao.
Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định rõ mục tiêu “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong những đột phá chiến lược. Văn kiện Đại hội XIV trong các nhiệm vụ trọng tâm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng xác định: “Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách và quy định pháp luật nhằm thúc đẩy GDNN và phát triển kỹ năng cho người lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống GDNN của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và mục tiêu phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện thực trạng chất lượng đào tạo trong GDNN, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng theo hướng tiếp cận hiện đại là yêu cầu cấp thiết. Đặc biệt, cách tiếp cận “phù hợp với mục tiêu” cho phép xem xét chất lượng đào tạo trên cơ sở mức độ đáp ứng giữa mục tiêu đào tạo và kết quả đầu ra trong những điều kiện cụ thể của từng cơ sở GDNN.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài viết tập trung phân tích thực trạng chất lượng đào tạo trong hệ thống GDNN dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, thu hẹp khoảng cách giữa "lời hứa đào tạo" và "năng lực thực tế" của người lao động. Điều này không chỉ nhằm khẳng định vị thế của GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Một số vấn đề về chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp
*Quan điểm chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp
Chất lượng đào tạo trong GDNN là một khái niệm đa chiều, phản ánh mức độ đáp ứng của quá trình đào tạo đối với mục tiêu đã xác định cũng như yêu cầu của thị trường lao động. Theo cách tiếp cận hiện đại, chất lượng đào tạo không chỉ được đánh giá thông qua nội dung kiến thức truyền đạt mà còn được thể hiện ở năng lực thực hành nghề nghiệp, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng của người học trong môi trường làm việc thực tiễn.
Trước hết, về mặt khái niệm, theo tác giả Trần Khánh Đức (2018), chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực thực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể.
Theo UNESCO, giáo dục nghề nghiệp không chỉ là quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng thực hành mà còn nhằm hình thành thái độ và sự hiểu biết liên quan đến nghề nghiệp. Chất lượng đào tạo đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả của GDNN.
Như vậy, chất lượng đào tạo có thể được hiểu là kết quả tổng hợp của quá trình đào tạo, được biểu hiện thông qua phẩm chất, năng lực nghề nghiệp và khả năng thực hiện công việc của người học sau khi tốt nghiệp, phù hợp với mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Do đó, chất lượng đào tạo không mang tính tuyệt đối mà gắn liền với mức độ “phù hợp với mục tiêu”, tức là sự tương thích giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và kết quả đầu ra.
Từ góc độ tiếp cận hệ thống, chất lượng đào tạo trong GDNN được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản: đầu vào, quá trình và đầu ra. Đầu vào bao gồm người học, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo; quá trình đào tạo thể hiện ở phương pháp giảng dạy, tổ chức thực hành, thực tập và môi trường học tập; đầu ra được đánh giá thông qua năng lực nghề nghiệp, khả năng việc làm và mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và cùng quyết định chất lượng đào tạo.
Trong bối cảnh hiện nay, quan điểm về chất lượng đào tạo trong GDNN đang có sự chuyển dịch rõ rệt từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải gắn với thực tiễn sản xuất, chú trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm và kỹ năng số. Đồng thời, chất lượng đào tạo cần được đo lường thông qua mức độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, thay vì chỉ dựa trên kết quả học tập trong nhà trường. Thực tế cho thấy, tình trạng người lao động phải được đào tạo lại sau khi tuyển dụng vẫn còn phổ biến, phản ánh sự thiếu gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động.
Bên cạnh đó, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu đối với chất lượng đào tạo ngày càng cao và mang tính động. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa không chỉ làm thay đổi nội dung nghề nghiệp mà còn đòi hỏi người lao động phải có khả năng học tập suốt đời và thích ứng linh hoạt với sự biến đổi của thị trường lao động. Do đó, chất lượng đào tạo trong GDNN cần được tiếp cận theo hướng mở, linh hoạt và gắn với chuẩn hóa quốc gia cũng như tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế.
Ngoài ra, chất lượng đào tạo còn gắn liền với vai trò của các chủ thể liên quan, đặc biệt là mối quan hệ giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ là đơn vị sử dụng lao động mà còn là đối tác quan trọng trong quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả học tập. Sự tham gia tích cực của doanh nghiệp sẽ góp phần bảo đảm tính thực tiễn và nâng cao hiệu quả đào tạo.
*Vai trò của chất lượng đào tạo đối với giáo dục nghề nghiệp
Chất lượng đào tạo đóng vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả của toàn bộ hệ thống GDNN, thể hiện qua các phương diện cốt lõi sau:
Trực tiếp nâng cao năng suất lao động và giải quyết bài toán cung - cầu của thị trường lao động. Mục tiêu then chốt của GDNN là cung cấp nguồn nhân lực có đủ kiến thức, kỹ năng và thái độ để nâng cao năng suất lao động. Khi chất lượng không đảm bảo, hệ quả tất yếu là sự "lệch pha" giữa đào tạo và sử dụng lao động. Thực tế khảo sát của VCCI cho thấy, do chương trình thiếu tính cập nhật và tách rời thực tiễn, có tới khoảng 72% doanh nghiệp hiện nay phải tiến hành đào tạo lại người lao động sau khi tuyển dụng,,.
Tạo năng lực thích ứng, cạnh tranh trước sức ép của Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế. Dưới tác động của tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI), cấu trúc thị trường lao động đang thay đổi sâu sắc. Các nghiên cứu chỉ ra rằng đến năm 2030, khoảng 40% kỹ năng hiện tại sẽ trở nên lỗi thời và khoảng 30% việc làm tại Việt Nam có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa trong 10 năm tới. Trong bối cảnh này, chất lượng đào tạo nghề đóng vai trò cung cấp cho người lao động khả năng thích ứng linh hoạt với các nghề nghiệp mới. Đồng thời, khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA), chất lượng đào tạo cao sẽ giúp chuẩn hóa trình độ tay nghề của lao động trong nước tương đương với khu vực và thế giới, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Công cụ cốt lõi để bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Bên cạnh bài toán kinh tế, chất lượng GDNN còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề giúp bảo vệ nhu cầu việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động, đặc biệt là nhóm lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo hoặc lao động trong các ngành truyền thống đang suy giảm. Điều này hoàn toàn phù hợp với đột phá chiến lược của Đại hội Đảng lần thứ XIII về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khẳng định vai trò của GDNN đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
2.2. Thực trạng chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay
Trong những năm gần đây, hệ thống GDNN tại Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và mạng lưới cơ sở đào tạo, góp phần quan trọng trong việc cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho thị trường lao động. Số lượng các cơ sở GDNN không ngừng gia tăng, đa dạng về loại hình, bước đầu đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tính đến tháng 11/2025, hệ thống mạng lưới GDNN trên cả nước đã phát triển đáng kể với khoảng 1.900 cơ sở, bao gồm các trường cao đẳng, trường trung cấp và trung tâm GDNN. Tuy nhiên, xét trên phương diện chất lượng đào tạo, hệ thống này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh mới.
Trước hết, về chương trình và nội dung đào tạo, nhiều cơ sở GDNN vẫn còn nặng về lý thuyết, chậm được cập nhật theo sự phát triển của khoa học - công nghệ và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Nội dung đào tạo ở một số ngành nghề chưa phản ánh đúng yêu cầu công việc trong môi trường sản xuất hiện đại, dẫn đến tình trạng người học thiếu kỹ năng thực hành và khó thích nghi ngay sau khi tốt nghiệp.
Về đội ngũ giảng viên, mặc dù đã có sự cải thiện về trình độ chuyên môn, song vẫn còn hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và khả năng cập nhật công nghệ mới. Một bộ phận giảng viên chưa có điều kiện tham gia thực tế tại doanh nghiệp, dẫn đến khoảng cách giữa giảng dạy và thực tiễn sản xuất. Đồng thời, năng lực ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy của một số giảng viên còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số.
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo, nhiều cơ sở GDNN, đặc biệt ở các địa phương, vẫn còn thiếu thốn và lạc hậu so với yêu cầu của sản xuất hiện đại. Điều này làm hạn chế khả năng tổ chức các hoạt động thực hành, thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp cho người học, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra.
Một trong những hạn chế đáng chú ý là mối liên kết giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả. Sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá người học còn mang tính hình thức ở nhiều nơi. Các mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp, như đào tạo kép, chưa được triển khai rộng rãi, dẫn đến tình trạng đào tạo chưa sát với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Hệ quả là nhiều doanh nghiệp vẫn phải tổ chức đào tạo lại sau khi tuyển dụng lao động. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới khoảng 72% doanh nghiệp cho biết họ phải tiến hành đào tạo lại lao động sau khi tuyển dụng.
Bên cạnh đó, chất lượng đầu ra của người học vẫn còn những hạn chế nhất định. Người tốt nghiệp tuy có nền tảng kiến thức nhưng còn yếu về kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo. Khả năng thích ứng với môi trường làm việc thay đổi nhanh, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ số và tự động hóa phát triển mạnh, còn chưa cao. Điều này làm giảm năng lực cạnh tranh của lao động nước ta trên thị trường trong nước và quốc tế.
Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Các cơ sở GDNN tập trung chủ yếu ở các đô thị và trung tâm kinh tế lớn, trong khi ở khu vực nông thôn, miền núi, điều kiện đào tạo còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận GDNN và chất lượng nguồn nhân lực giữa các khu vực.
Như vậy, mặc dù GDNN ở nước ta hiện nay tuy đã đạt được những kết quả tích cực về quy mô và bước đầu cải thiện chất lượng, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và đặc biệt là sự gắn kết với doanh nghiệp. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp đồng bộ, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.
2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tăng cường liên kết giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng nhằm bảo đảm đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, góp phần giảm khoảng cách giữa “đào tạo” và “sử dụng lao động”, đồng thời nâng cao khả năng có việc làm của người học.
Nội dung của giải pháp là: Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi của cơ sở GDNN và doanh nghiệp trong quá trình phối hợp đào tạo; khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào các khâu như xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả học tập và tuyển dụng.
Để thực hiện tốt giải pháp này, Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp lý cụ thể về hợp tác đào tạo; triển khai các cơ chế ưu đãi (thuế, tài chính) đối với doanh nghiệp tham gia đào tạo; xây dựng các mô hình hợp tác như đào tạo kép, đào tạo theo đặt hàng; thiết lập các kênh kết nối thường xuyên giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Hai là, phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng đào tạo
Giải pháp này góp phần chuẩn hóa và nâng cao tính minh bạch trong đánh giá chất lượng đào tạo, bảo đảm đầu ra đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và tiệm cận chuẩn khu vực, quốc tế.
Nội dung của giải pháp: Hoàn thiện bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng theo hướng tiếp cận năng lực; xây dựng hệ thống quản trị chất lượng nội bộ tại các cơ sở GDNN; tăng cường đánh giá theo chuẩn đầu ra và mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt giải pháp này, cần rà soát, thống nhất các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng GDNN; xây dựng các cơ chế, quy định về đảm bảo chất lượng; các cơ chế, quy định về phát triển hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng trong các cơ sở GDNN. Gắn kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề, tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở GDNN; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp. Cung cấp thông tin về nhu cầu đào tạo, sử dụng lao động của doanh nghiệp theo ngành, nghề và nhu cầu tuyển dụng lao động hàng năm cho cơ quan quản lý nhà nước về GDNN. Hợp tác quốc tế trong đào tạo dạy nghề: tiếp tục hợp tác với Hàn Quốc, Đức, Italia và Nhật Bản trong triển khai các dự án ODA đã ký kết. Thực hiện đàm phán với các nhóm nước trong ASEAN để tiến tới công nhận văn bằng, chứng chỉ và kỹ năng nghề giữa các nước. Hoàn thiện các chính sách khuyến khích các cơ sở GDNN trong nước mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài; hợp tác nghiên cứu khoa học; thu hút các nhà đầu tư nước ngoài phát triển cơ sở GDNN, hợp tác đào tạo, mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý và đánh giá; tăng cường kiểm định độc lập và công khai kết quả kiểm định.
Ba là, xây dựng mạng lưới liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
Giải pháp này nhằm đóng vai trò cầu nối trung gian giúp các bên dễ dàng tìm kiếm đối tác phù hợp, đồng thời cung cấp dữ liệu thực tế để tham mưu cho các cơ quan chức năng trong việc hoạch định chính sách.
Nội dung của giải pháp: Hình thành mạng lưới liên kết chuyên nghiệp để thu thập, cập nhật dữ liệu và tư vấn các mô hình liên kết hiệu quả cho cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt giải pháp này, cần thành lập các bộ phận chuyên trách về hợp tác doanh nghiệp tại các trường; thành lập các trung tâm kết nối cung - cầu lao động; triển khai các chương trình liên kết đào tạo với doanh nghiệp hay nước ngoài; duy trì kênh liên lạc thường xuyên thông qua các hội thảo, diễn đàn khoa học và các dự án nghiên cứu chung để xây dựng sự thông hiểu và tin tưởng lẫn nhau.
Bốn là, tăng cường mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, gắn kết giảng viên với thực tiễn sản xuất.
Giải pháp này nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết giảng đường và công nghệ thực tế tại doanh nghiệp, giúp quá trình đào tạo sát với nhu cầu tác nghiệp thực tiễn của thị trường lao động.
Nội dung của giải pháp: Thực hiện cơ chế trao đổi nguồn nhân lực chất lượng cao giữa hai khu vực: đưa giảng viên đến doanh nghiệp và mời chuyên gia doanh nghiệp về trường.
Để thực hiện tốt giải pháp này, cần xây dựng chính sách khuyến khích giảng viên, chuyên gia có trình độ cao tham gia cố vấn hoặc thực hiện dự án tại doanh nghiệp; đồng thời, chủ động mời các nhà quản lý và nhân lực giỏi từ doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào hoạt động đào tạo của nhà trường về những kĩ năng tác nghiệp trên máy móc, thiết bị thực tế để quá trình nghiên cứu, giảng dạy trên giảng đường sát với thực tiễn.
Năm là, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia.
Giải pháp này nhằm đảm bảo tính bền vững và thực chất của sự hợp tác khi các bên đều nhận thấy giá trị và lợi ích thu được, hướng tới mục tiêu giải quyết việc làm ổn định cho người học.
Nội dung của giải pháp: Xác định rõ lợi ích và trách nhiệm của nhà trường, doanh nghiệp và người học; xây dựng cơ chế hợp tác công bằng, minh bạch và cùng có lợi. Xác lập cơ chế chia sẻ và cân bằng lợi ích; thực hiện mô hình xã hội hóa với sự tham gia của nhiều lực lượng trong hoạt động dạy nghề.
Để hợp tác giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp được thiết thực, hiệu quả và bền vững, các bên cần nhận thức rõ các lợi ích, tôn trọng và cân bằng các lợi ích. Nhà trường cần ưu tiên chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ doanh nghiệp trong tư vấn, giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp cần tạo điều kiện tiếp nhận sinh viên kiến tập, thực tập, tham quan, khảo sát, tuyển dụng và sử dụng sinh viên tốt nghiệp của nhà trường; đóng vai trò là nhà cung cấp thông tin, phản biện để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động; thường xuyên trao đổi, góp ý chương trình đào tạo, mô hình, phương pháp đào tạo của nhà trường; tài trợ, ủng hộ cho nhà trường cơ sở vật chất, thông tin và các nguồn lực trong khả năng của doanh nghiệp.
3. Kết luận
Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đối với chất lượng đào tạo ngày càng cao, đòi hỏi hệ thống GDNN phải có sự đổi mới toàn diện và thực chất. Bài viết đã đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tiếp cận “phù hợp với mục tiêu”, trong đó nhấn mạnh việc tăng cường liên kết với doanh nghiệp, đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng và bảo đảm hài hòa lợi ích. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực chất của hoạt động đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh mới, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
- Lê, K. D. Xây dựng nguồn nhân lực giáo dục nghề nghiệp phục vụ hội nhập. Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam, 25-27
- Nguyễn, V. T. D. (2025). Giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động. Tạp chí Quản lý nhà nước, 358(11), 40-43
- Trần Khánh Đức. (2009). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. Hà Nội: NXB Giáo dục Việt Nam.
- Nguyễn, X. T. (2022). Quản lý đào tạo nghề theo hướng đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(4), 21-32
- International Labour Organization. (2023). The Future of Work: Skills and Technology Outlook 2030. Geneva: ILO Publications
SOLUTIONS TO IMPROVE THE QUALITY OF TRAINING IN VOCATIONAL EDUCATION AND TRAINING
Nguyen Thi Phuong Thanh
Bach Khoa College of Technology and Economics
Email:[email protected]
Abstract: The quality of training in vocational education is a key factor determining the competitiveness of the workforce in the context of digital transformation and increasingly deep international integration. Based on the current situation of Vietnam’s vocational education system, this paper clarifies existing limitations in the relationship between training and labor market demands. At the same time, the study applies the “fitness for purpose” approach to propose systematic solutions aimed at improving training quality, strengthening the linkage between educational institutions and the labor market, and contributing to the realization of the goal of developing high-quality human resources for the country’s sustainable development.
Key words: Training quality; Vocational Education and Training (VET); Fitness for purpose; Quality management; Solutions to improve training quality; Industry 4.0.