1. Tư vấn phản biện
  2. >
  3. Bài báo khoa học

GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN HỆ 1, HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

09:11 | 11/11/2025
aA

 

 Lê Hảo; Dương Minh Thiện; Vũ Xuân Tùng

Hệ 1, Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển mạnh mẽ của khoa học -công nghệ và chuyển đổi số, yêu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT và nghiên cứu khoa học (NCKH) đối với các học viện, nhà trường trong Quân đội đang trở nên cấp thiết. Đối với Hệ 1, Học viện Chính trị, nơi đào tạo đội ngũ chính ủy trung, lữ đoàn, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) giữ vai trò nền tảng trong hình thành tư duy khoa học và nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy, mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, song kỹ năng TN & XLTT của một bộ phận học viên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trên cơ sở phân tích thực trạng, nguyên nhân và yêu cầu nhiệm vụ đào tạo trong giai đoạn mới, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT cho học viên Hệ 1 nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Từ khóa: Tiếp nhận thông tin; xử lý thông tin; nghiên cứu khoa học; Hệ 1; Học viện Chính trị.

Nhận bài: 10/11/2025; Biên tập: 11/11/2025; Duyệt đăng: 11/11/2025.

1. Mở đầu

Trong những năm gần đây, yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT trong Quân đội gắn liền với triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với học viên các nhà trường quân đội. Đối với Hệ 1, Học viện Chính trị, nơi đào tạo cán bộ chính trị cho trung đoàn, lữ đoàn, năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) không chỉ là kỹ năng học thuật mà còn là tiền đề quan trọng để hình thành tư duy lý luận, phương pháp làm việc khoa học và bản lĩnh thực tiễn của người cán bộ chính trị.

Trong cấu trúc năng lực NCKH, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để xác lập vấn đề nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận điểm khoa học và triển khai lập luận mạch lạc, chính xác. Do đó, bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT là yêu cầu tất yếu đối với học viên Hệ 1 trong bối cảnh hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học của học viên Hệ 1

Công tác bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT trong NCKH của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực. Cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, cụ thể hóa chủ trương “tăng cường nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, coi trọng phát triển năng lực NCKH” , triển khai đa dạng hình thức như tọa đàm, hội thảo, xemina, thực tập học thuật. Khảo sát cho thấy 76% học viên đánh giá “tốt” và “rất tốt” vai trò lãnh đạo, chỉ đạo (23% “rất tốt”, 53% “tốt”). Các cơ quan chức năng như Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học quân sự đã phối hợp hiệu quả; 62% học viên khẳng định việc truy cập tài nguyên điện tử hỗ trợ tốt cho tìm kiếm, xử lý dữ liệu.

Đội ngũ giảng viên có trình độ, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm cao; 48% học viên hiểu rõ vai trò kỹ năng TN & XLTT, 22% tự đánh giá kỹ năng ở mức “tốt”. Công tác bồi dưỡng gắn với đổi mới nội dung, chuyển từ lý thuyết sang thực hành ứng dụng; 48% học viên hiểu “rất rõ”, 20% “khá rõ” vai trò kỹ năng; 37% tự học, 27% được đào tạo chính khóa, 23% được giảng viên hướng dẫn. Nhờ đó, kỹ năng của học viên được nâng cao rõ rệt: 18,95% khẳng định động cơ nghiên cứu là yếu tố quyết định hiệu quả; khả năng khai thác, chọn lọc thông tin tốt hơn (21% dùng thư viện điện tử, 21% Internet, 19% tạp chí khoa học). Giai đoạn 2020–2025, học viên Hệ 1 thực hiện 142 đề tài, 168 chuyên đề, 590 tham luận, 194 bài báo, trong đó 63 công trình đạt giải cấp Học viện, 22 công trình đạt giải “Tuổi trẻ sáng tạo toàn quân”.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế: một số chủ thể chưa nhận thức đầy đủ vai trò bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT; công tác chỉ đạo còn hành chính, thiếu chiều sâu; kế hoạch, kiểm tra đánh giá chưa cụ thể. 30% học viên chỉ được hướng dẫn thỉnh thoảng, 15% gần như không được hướng dẫn. Một bộ phận giảng viên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng này; hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật chưa thường xuyên; 9,8% học viên cho rằng nguyên nhân là thiếu cơ chế phối hợp giữa giảng viên, Hệ 1 và lớp học viên. Những vấn đề đó cần được khắc phục nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng NCKH của học viên trong thời gian tới.

2. 2. Một số giải pháp bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị hiện nay

Một là, tăng cường giáo dục nhận thức về vai trò của kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin đối với hoạt động nghiên cứu khoa học

Giải pháp này là then chốt, quyết định chất lượng bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) cho học viên Hệ 1. Nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của kỹ năng là tiền đề để các tổ chức, lực lượng triển khai nghiêm túc, khoa học, đồng thời nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học. Ngược lại, nhận thức chưa đầy đủ, trách nhiệm thấp sẽ dẫn đến hình thức hóa, kém hiệu quả, không phát huy vai trò tích cực của giảng viên và học viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được”, khẳng định tầm quan trọng của nhận thức và trách nhiệm trong mọi hoạt động.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, khoa giảng dạy cần quán triệt các chỉ thị, nghị quyết về đổi mới giáo dục, chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, khai thác, xử lý thông tin. Việc tuyên truyền, sinh hoạt chính trị, tọa đàm, hội thảo khoa học giúp cán bộ, giảng viên và học viên nhận thức đúng và gắn hành động với trách nhiệm thực tế, tạo nền tảng cho quá trình bồi dưỡng kỹ năng đạt chất lượng cao.

Hình thức giáo dục linh hoạt như hội nghị chuyên đề, thảo luận nhóm, thực hành tra cứu và xử lý tài liệu giúp lan tỏa nhận thức, đồng thời phân công rõ trách nhiệm giữa các khoa, phòng, cơ quan quản lý và cán bộ kiêm chức. Kết quả tham gia cần lồng ghép vào tiêu chí thi đua, đánh giá giảng viên và học viên để tạo động lực, thúc đẩy chuyển biến thực chất.

Tất cả tổ chức, lực lượng từ Đảng ủy, Ban Giám đốc, phòng ban chức năng, giảng viên đến tập thể lớp học viên cần đồng bộ thực hiện, từ lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, giảng dạy đến tham gia tích cực các phong trào và sinh hoạt khoa học. Việc phối hợp chặt chẽ, đưa kỹ năng TN & XLTT thành trục xuyên suốt trong đào tạo, nghiên cứu giúp học viên Hệ 1 rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, tư duy khoa học và kỹ năng, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuẩn bị đội ngũ cán bộ chính trị vững vàng trong tương lai.

Hai là, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT  là giải pháp quyết định đến chất lượng NCKH của học viên Hệ 1. Nội dung, hình thức và biện pháp phải đúng đắn, khoa học, sát thực tiễn, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ đào tạo chính uỷ trung, lữ đoàn và điều kiện quản lý học viên. Việc này đòi hỏi rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống nội dung, giảm lý thuyết trùng lặp, tăng thực hành, bồi dưỡng kỹ năng tư duy, khai thác và xử lý thông tin từ nhiều nguồn: sách, báo, cơ sở dữ liệu số, mạng internet, đồng thời chống chạy theo thông tin bề ngoài hoặc không chính thống. Nội dung bồi dưỡng phải gắn chặt thực tiễn, tích hợp vào bài tập, tiểu luận, khóa luận và công trình NCKH, đảm bảo tính hệ thống, liên tục, từ nhận biết đến vận dụng và sáng tạo.

Phương pháp bồi dưỡng cần tích cực, chủ động, lấy học viên làm trung tâm, kết hợp lý luận với thực hành, áp dụng dạy học tương tác cao như seminar, tọa đàm, trao đổi nhóm, xử lý tình huống thực tiễn. Giảng viên đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học viên khai thác, phân tích và xử lý thông tin, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm, thư viện số và hội thảo trực tuyến để mở rộng không gian học tập và nâng cao kỹ năng chọn lọc thông tin chính xác.

Hình thức bồi dưỡng cần đa dạng, tạo môi trường học tập chủ động, sáng tạo, thông qua workshop học thuật, nhóm nghiên cứu có hướng dẫn, diễn đàn khoa học chuyên đề, chuyến đi thực tế, khảo sát và phân tích dữ liệu. Các hình thức này rèn luyện kỹ năng thực hành, tư duy hệ thống, làm việc nhóm và khả năng xử lý thông tin từ thực tiễn, phù hợp với yêu cầu công tác chính trị sau khi tốt nghiệp.

Tóm lại, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT phải đồng bộ, liên tục, gắn chặt lý luận với thực tiễn, lấy học viên làm trung tâm, nhằm nâng cao chất lượng NCKH, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Ba là, tăng cường giáo dục, rèn luyện học viên trong thực tiễn nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học kết hợp với xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự lành mạnh.

Thực tiễn là môi trường khách quan để hình thành và rèn luyện kỹ năng TN & XLTT trong NCKH. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh của khoa học - công nghệ, học viên không chỉ cần nắm vững kiến thức mà còn phải chủ động khai thác, phân tích, xử lý và vận dụng thông tin khoa học phục vụ học tập và nghiên cứu.

Để nâng cao kỹ năng TN & XLTT, trước hết cần bồi dưỡng qua quá trình dạy - học và NCKH. Giảng viên và cán bộ hướng dẫn phải tích hợp các kỹ thuật khai thác thông tin từ thư viện số, cơ sở dữ liệu khoa học, hội nghị quân đội và quốc tế. Bài tập thực hành, tình huống, thảo luận nhóm, seminar cần được tăng cường để học viên vừa khai thác thông tin vừa rèn tư duy phản biện và kỹ năng trình bày logic khoa học. Các phong trào NCKH giúp học viên vận dụng thông tin, tổng hợp, đối chiếu và nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu.

Cần tổ chức tọa đàm, hội thảo chuyên đề, mời nhà khoa học, cán bộ quản lý thư viện, trung tâm thông tin hướng dẫn khai thác thư viện điện tử, công cụ phân tích thống kê và đồ họa (SPSS, Excel, Canva…), tạo môi trường cởi mở, khuyến khích học viên đặt câu hỏi, chia sẻ vướng mắc và vận dụng ngay kỹ thuật xử lý thông tin vào thực tế.

Bảo đảm điều kiện vật chất, trang bị thư viện điện tử, phòng tra cứu hiện đại, phần mềm xử lý dữ liệu, không gian tự học khoa học và đội ngũ cán bộ hướng dẫn thành thạo kỹ thuật khai thác thông tin.

Gắn tự bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT với phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt, NCKH sáng tạo,” khích lệ học viên chủ động nghiên cứu, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, cảnh giác thông tin xấu độc, phát triển phong cách làm việc khoa học và năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu người chính uỷ trung, lữ đoàn trong thời kỳ mới.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị trong tự bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học

Phát huy tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng TN & XLTT là giải pháp then chốt, quyết định chất lượng NCKH của học viên. Kỹ năng này không thể hình thành chỉ dựa vào giảng viên hay tác động bên ngoài, mà cần xuất phát từ ý chí tự giác, chủ động rèn luyện của từng học viên.

Trước hết, học viên cần xây dựng động cơ và thái độ trách nhiệm cao. Nhận thức sâu sắc vai trò của TN & XLTT trong việc khai thác tri thức, xử lý vấn đề thực tiễn, nâng cao chất lượng học tập và NCKH. Học viên cần tự giác đặt mục tiêu rèn luyện, biến áp lực thành động lực, phát triển bản thân, hình thành tinh thần ham học, ham hiểu biết.

Tiếp theo, xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng sát với mục tiêu đào tạo là yêu cầu quan trọng. Học viên cần xác định mục tiêu ngắn hạn, dài hạn; đặt chỉ tiêu khai thác tài liệu, xử lý tình huống thông tin; chủ động tìm tòi phương pháp tra cứu và áp dụng công cụ phân tích khoa học. Quá trình này phải gắn với phương châm “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” và dựa trên tinh thần tự học làm cốt.

Học viên cũng cần thường xuyên nâng cao năng lực thực tiễn, tự kiểm tra và đánh giá quá trình rèn luyện. Việc tự đối chiếu kết quả với tiêu chí đánh giá, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất biện pháp khắc phục giúp quá trình tự bồi dưỡng đạt hiệu quả cao. Quá trình này phải nghiêm túc, khách quan, dựa trên tự phê bình và ý kiến của tập thể, cán bộ quản lý, giảng viên.

Tăng cường vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì là điều kiện đảm bảo hiệu quả. Các cấp cần xây dựng nghị quyết, kế hoạch, tiêu chí đánh giá năng lực thông tin học thuật, giám sát sát sao quá trình học tập, nghiên cứu và tiếp cận thông tin của học viên. Kết quả đánh giá cần gắn với thi đua, khen thưởng và sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế quản lý, đồng thời nâng cao chất lượng tự rèn luyện kỹ năng TN & XLTT của học viên trong giai đoạn tiếp theo.

Năm là, thực hiện tốt công tác bảo đảm về cơ chế, chính sách, tạo động lực thúc đẩy học viên nghiên cứu khoa học.

Bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT trong NCKH không thể đạt hiệu quả cao nếu thiếu nền tảng hỗ trợ từ cơ chế, chính sách và môi trường khuyến khích hoạt động khoa học. Trong điều kiện đào tạo đội ngũ chính ủy trung, lữ đoàn hiện nay, việc phát triển năng lực thông tin học thuật của học viên không chỉ là vấn đề phương pháp và tổ chức mà còn là câu chuyện về động lực, môi trường và sự bảo đảm từ phía các cấp lãnh đạo, quản lý.  Để thực hiện tốt giải pháp này Học viện cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách khen thưởng theo hướng cụ thể, công khai, minh bạch và gắn với chất lượng thực tế của sản phẩm nghiên cứu, đặc biệt là các công trình có chất lương cao. Chính sách này không chỉ có ý nghĩa biểu dương, ghi nhận mà còn khơi dậy ý chí phấn đấu, cạnh tranh lành mạnh trong môi trường học thuật. Học viện cần có quy định khen thưởng xứng đáng đối với những công trình khoa học đạt chất lượng cao; ưu tiên xét tiêu chí NCKH trong các danh hiệu thi đua, giới thiệu dự thi các giải thưởng khoa học toàn quân. Ngoài ra, cần từng bước hình thành chế độ đãi ngộ học thuật hợp lý như cộng điểm học tập, tạo điều kiện tham gia hội thảo, diễn đàn học thuật,…Đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy học viên tự giác rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin, không chỉ để làm tốt nghiên cứu mà còn để khẳng định giá trị bản thân trong quá trình học tập.

3. Kết luận

Bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin cho học viên Hệ 1 là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng NCKH và phát triển phong cách làm việc khoa học của đội ngũ chính ủy trong tương lai. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ, có kiểm tra và đánh giá thường xuyên để mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 (Khóa XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 8 (Khóa XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.

3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021.

4. Đảng ủy Hệ 1 Học viện Chính trị, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Hệ 1 nhiệm kỳ 2025 – 2030, Hà Nội, 2025.

5. Học viện Chính trị, Báo cáo tổng kết năm học (2021-2022; 2022-2023; 2023-2024).

6. Nguyễn Văn Tượng, Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, 2016.

7. Vũ Đình Thuận, Giải pháp bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học viên các nhà trường quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số, Học viện Kỹ thuật Quân sự, 2025.

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH  CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự và đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ khoá: Tiềm lực khoa học quân sự; công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).