GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN HỆ 1, HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
Lê Hảo; Dương Minh Thiện; Vũ Xuân Tùng
Hệ 1, Học viện Chính trị, Bộ Quốc Phòng
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển mạnh mẽ của khoa học -công nghệ và chuyển đổi số, yêu cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT và nghiên cứu khoa học (NCKH) đối với các học viện, nhà trường trong Quân đội đang trở nên cấp thiết. Đối với Hệ 1, Học viện Chính trị, nơi đào tạo đội ngũ chính ủy trung, lữ đoàn, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) giữ vai trò nền tảng trong hình thành tư duy khoa học và nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu. Thực tiễn cho thấy, mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, song kỹ năng TN & XLTT của một bộ phận học viên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Trên cơ sở phân tích thực trạng, nguyên nhân và yêu cầu nhiệm vụ đào tạo trong giai đoạn mới, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT cho học viên Hệ 1 nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Từ khóa: Tiếp nhận thông tin; xử lý thông tin; nghiên cứu khoa học; Hệ 1; Học viện Chính trị.
Nhận bài: 10/11/2025; Biên tập: 11/11/2025; Duyệt đăng: 11/11/2025.
1. Mở đầu
Trong những năm gần đây, yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT trong Quân đội gắn liền với triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với học viên các nhà trường quân đội. Đối với Hệ 1, Học viện Chính trị, nơi đào tạo cán bộ chính trị cho trung đoàn, lữ đoàn, năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) không chỉ là kỹ năng học thuật mà còn là tiền đề quan trọng để hình thành tư duy lý luận, phương pháp làm việc khoa học và bản lĩnh thực tiễn của người cán bộ chính trị.
Trong cấu trúc năng lực NCKH, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để xác lập vấn đề nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận điểm khoa học và triển khai lập luận mạch lạc, chính xác. Do đó, bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT là yêu cầu tất yếu đối với học viên Hệ 1 trong bối cảnh hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học của học viên Hệ 1
Công tác bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT trong NCKH của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực. Cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, cụ thể hóa chủ trương “tăng cường nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, coi trọng phát triển năng lực NCKH” , triển khai đa dạng hình thức như tọa đàm, hội thảo, xemina, thực tập học thuật. Khảo sát cho thấy 76% học viên đánh giá “tốt” và “rất tốt” vai trò lãnh đạo, chỉ đạo (23% “rất tốt”, 53% “tốt”). Các cơ quan chức năng như Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học quân sự đã phối hợp hiệu quả; 62% học viên khẳng định việc truy cập tài nguyên điện tử hỗ trợ tốt cho tìm kiếm, xử lý dữ liệu.
Đội ngũ giảng viên có trình độ, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm cao; 48% học viên hiểu rõ vai trò kỹ năng TN & XLTT, 22% tự đánh giá kỹ năng ở mức “tốt”. Công tác bồi dưỡng gắn với đổi mới nội dung, chuyển từ lý thuyết sang thực hành ứng dụng; 48% học viên hiểu “rất rõ”, 20% “khá rõ” vai trò kỹ năng; 37% tự học, 27% được đào tạo chính khóa, 23% được giảng viên hướng dẫn. Nhờ đó, kỹ năng của học viên được nâng cao rõ rệt: 18,95% khẳng định động cơ nghiên cứu là yếu tố quyết định hiệu quả; khả năng khai thác, chọn lọc thông tin tốt hơn (21% dùng thư viện điện tử, 21% Internet, 19% tạp chí khoa học). Giai đoạn 2020–2025, học viên Hệ 1 thực hiện 142 đề tài, 168 chuyên đề, 590 tham luận, 194 bài báo, trong đó 63 công trình đạt giải cấp Học viện, 22 công trình đạt giải “Tuổi trẻ sáng tạo toàn quân”.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế: một số chủ thể chưa nhận thức đầy đủ vai trò bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT; công tác chỉ đạo còn hành chính, thiếu chiều sâu; kế hoạch, kiểm tra đánh giá chưa cụ thể. 30% học viên chỉ được hướng dẫn thỉnh thoảng, 15% gần như không được hướng dẫn. Một bộ phận giảng viên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng này; hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật chưa thường xuyên; 9,8% học viên cho rằng nguyên nhân là thiếu cơ chế phối hợp giữa giảng viên, Hệ 1 và lớp học viên. Những vấn đề đó cần được khắc phục nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng NCKH của học viên trong thời gian tới.
2. 2. Một số giải pháp bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị hiện nay
Một là, tăng cường giáo dục nhận thức về vai trò của kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
Giải pháp này là then chốt, quyết định chất lượng bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin (TN & XLTT) cho học viên Hệ 1. Nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của kỹ năng là tiền đề để các tổ chức, lực lượng triển khai nghiêm túc, khoa học, đồng thời nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học. Ngược lại, nhận thức chưa đầy đủ, trách nhiệm thấp sẽ dẫn đến hình thức hóa, kém hiệu quả, không phát huy vai trò tích cực của giảng viên và học viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được”, khẳng định tầm quan trọng của nhận thức và trách nhiệm trong mọi hoạt động.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, khoa giảng dạy cần quán triệt các chỉ thị, nghị quyết về đổi mới giáo dục, chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, khai thác, xử lý thông tin. Việc tuyên truyền, sinh hoạt chính trị, tọa đàm, hội thảo khoa học giúp cán bộ, giảng viên và học viên nhận thức đúng và gắn hành động với trách nhiệm thực tế, tạo nền tảng cho quá trình bồi dưỡng kỹ năng đạt chất lượng cao.
Hình thức giáo dục linh hoạt như hội nghị chuyên đề, thảo luận nhóm, thực hành tra cứu và xử lý tài liệu giúp lan tỏa nhận thức, đồng thời phân công rõ trách nhiệm giữa các khoa, phòng, cơ quan quản lý và cán bộ kiêm chức. Kết quả tham gia cần lồng ghép vào tiêu chí thi đua, đánh giá giảng viên và học viên để tạo động lực, thúc đẩy chuyển biến thực chất.
Tất cả tổ chức, lực lượng từ Đảng ủy, Ban Giám đốc, phòng ban chức năng, giảng viên đến tập thể lớp học viên cần đồng bộ thực hiện, từ lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, giảng dạy đến tham gia tích cực các phong trào và sinh hoạt khoa học. Việc phối hợp chặt chẽ, đưa kỹ năng TN & XLTT thành trục xuyên suốt trong đào tạo, nghiên cứu giúp học viên Hệ 1 rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, tư duy khoa học và kỹ năng, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuẩn bị đội ngũ cán bộ chính trị vững vàng trong tương lai.
Hai là, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học.
Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT là giải pháp quyết định đến chất lượng NCKH của học viên Hệ 1. Nội dung, hình thức và biện pháp phải đúng đắn, khoa học, sát thực tiễn, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ đào tạo chính uỷ trung, lữ đoàn và điều kiện quản lý học viên. Việc này đòi hỏi rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống nội dung, giảm lý thuyết trùng lặp, tăng thực hành, bồi dưỡng kỹ năng tư duy, khai thác và xử lý thông tin từ nhiều nguồn: sách, báo, cơ sở dữ liệu số, mạng internet, đồng thời chống chạy theo thông tin bề ngoài hoặc không chính thống. Nội dung bồi dưỡng phải gắn chặt thực tiễn, tích hợp vào bài tập, tiểu luận, khóa luận và công trình NCKH, đảm bảo tính hệ thống, liên tục, từ nhận biết đến vận dụng và sáng tạo.
Phương pháp bồi dưỡng cần tích cực, chủ động, lấy học viên làm trung tâm, kết hợp lý luận với thực hành, áp dụng dạy học tương tác cao như seminar, tọa đàm, trao đổi nhóm, xử lý tình huống thực tiễn. Giảng viên đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học viên khai thác, phân tích và xử lý thông tin, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm, thư viện số và hội thảo trực tuyến để mở rộng không gian học tập và nâng cao kỹ năng chọn lọc thông tin chính xác.
Hình thức bồi dưỡng cần đa dạng, tạo môi trường học tập chủ động, sáng tạo, thông qua workshop học thuật, nhóm nghiên cứu có hướng dẫn, diễn đàn khoa học chuyên đề, chuyến đi thực tế, khảo sát và phân tích dữ liệu. Các hình thức này rèn luyện kỹ năng thực hành, tư duy hệ thống, làm việc nhóm và khả năng xử lý thông tin từ thực tiễn, phù hợp với yêu cầu công tác chính trị sau khi tốt nghiệp.
Tóm lại, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT phải đồng bộ, liên tục, gắn chặt lý luận với thực tiễn, lấy học viên làm trung tâm, nhằm nâng cao chất lượng NCKH, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Ba là, tăng cường giáo dục, rèn luyện học viên trong thực tiễn nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học kết hợp với xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự lành mạnh.
Thực tiễn là môi trường khách quan để hình thành và rèn luyện kỹ năng TN & XLTT trong NCKH. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh của khoa học - công nghệ, học viên không chỉ cần nắm vững kiến thức mà còn phải chủ động khai thác, phân tích, xử lý và vận dụng thông tin khoa học phục vụ học tập và nghiên cứu.
Để nâng cao kỹ năng TN & XLTT, trước hết cần bồi dưỡng qua quá trình dạy - học và NCKH. Giảng viên và cán bộ hướng dẫn phải tích hợp các kỹ thuật khai thác thông tin từ thư viện số, cơ sở dữ liệu khoa học, hội nghị quân đội và quốc tế. Bài tập thực hành, tình huống, thảo luận nhóm, seminar cần được tăng cường để học viên vừa khai thác thông tin vừa rèn tư duy phản biện và kỹ năng trình bày logic khoa học. Các phong trào NCKH giúp học viên vận dụng thông tin, tổng hợp, đối chiếu và nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu.
Cần tổ chức tọa đàm, hội thảo chuyên đề, mời nhà khoa học, cán bộ quản lý thư viện, trung tâm thông tin hướng dẫn khai thác thư viện điện tử, công cụ phân tích thống kê và đồ họa (SPSS, Excel, Canva…), tạo môi trường cởi mở, khuyến khích học viên đặt câu hỏi, chia sẻ vướng mắc và vận dụng ngay kỹ thuật xử lý thông tin vào thực tế.
Bảo đảm điều kiện vật chất, trang bị thư viện điện tử, phòng tra cứu hiện đại, phần mềm xử lý dữ liệu, không gian tự học khoa học và đội ngũ cán bộ hướng dẫn thành thạo kỹ thuật khai thác thông tin.
Gắn tự bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT với phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt, NCKH sáng tạo,” khích lệ học viên chủ động nghiên cứu, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, cảnh giác thông tin xấu độc, phát triển phong cách làm việc khoa học và năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu người chính uỷ trung, lữ đoàn trong thời kỳ mới.
Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên Hệ 1, Học viện Chính trị trong tự bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong nghiên cứu khoa học
Phát huy tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng TN & XLTT là giải pháp then chốt, quyết định chất lượng NCKH của học viên. Kỹ năng này không thể hình thành chỉ dựa vào giảng viên hay tác động bên ngoài, mà cần xuất phát từ ý chí tự giác, chủ động rèn luyện của từng học viên.
Trước hết, học viên cần xây dựng động cơ và thái độ trách nhiệm cao. Nhận thức sâu sắc vai trò của TN & XLTT trong việc khai thác tri thức, xử lý vấn đề thực tiễn, nâng cao chất lượng học tập và NCKH. Học viên cần tự giác đặt mục tiêu rèn luyện, biến áp lực thành động lực, phát triển bản thân, hình thành tinh thần ham học, ham hiểu biết.
Tiếp theo, xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng sát với mục tiêu đào tạo là yêu cầu quan trọng. Học viên cần xác định mục tiêu ngắn hạn, dài hạn; đặt chỉ tiêu khai thác tài liệu, xử lý tình huống thông tin; chủ động tìm tòi phương pháp tra cứu và áp dụng công cụ phân tích khoa học. Quá trình này phải gắn với phương châm “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” và dựa trên tinh thần tự học làm cốt.
Học viên cũng cần thường xuyên nâng cao năng lực thực tiễn, tự kiểm tra và đánh giá quá trình rèn luyện. Việc tự đối chiếu kết quả với tiêu chí đánh giá, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất biện pháp khắc phục giúp quá trình tự bồi dưỡng đạt hiệu quả cao. Quá trình này phải nghiêm túc, khách quan, dựa trên tự phê bình và ý kiến của tập thể, cán bộ quản lý, giảng viên.
Tăng cường vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì là điều kiện đảm bảo hiệu quả. Các cấp cần xây dựng nghị quyết, kế hoạch, tiêu chí đánh giá năng lực thông tin học thuật, giám sát sát sao quá trình học tập, nghiên cứu và tiếp cận thông tin của học viên. Kết quả đánh giá cần gắn với thi đua, khen thưởng và sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế quản lý, đồng thời nâng cao chất lượng tự rèn luyện kỹ năng TN & XLTT của học viên trong giai đoạn tiếp theo.
Năm là, thực hiện tốt công tác bảo đảm về cơ chế, chính sách, tạo động lực thúc đẩy học viên nghiên cứu khoa học.
Bồi dưỡng kỹ năng TN & XLTT trong NCKH không thể đạt hiệu quả cao nếu thiếu nền tảng hỗ trợ từ cơ chế, chính sách và môi trường khuyến khích hoạt động khoa học. Trong điều kiện đào tạo đội ngũ chính ủy trung, lữ đoàn hiện nay, việc phát triển năng lực thông tin học thuật của học viên không chỉ là vấn đề phương pháp và tổ chức mà còn là câu chuyện về động lực, môi trường và sự bảo đảm từ phía các cấp lãnh đạo, quản lý. Để thực hiện tốt giải pháp này Học viện cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách khen thưởng theo hướng cụ thể, công khai, minh bạch và gắn với chất lượng thực tế của sản phẩm nghiên cứu, đặc biệt là các công trình có chất lương cao. Chính sách này không chỉ có ý nghĩa biểu dương, ghi nhận mà còn khơi dậy ý chí phấn đấu, cạnh tranh lành mạnh trong môi trường học thuật. Học viện cần có quy định khen thưởng xứng đáng đối với những công trình khoa học đạt chất lượng cao; ưu tiên xét tiêu chí NCKH trong các danh hiệu thi đua, giới thiệu dự thi các giải thưởng khoa học toàn quân. Ngoài ra, cần từng bước hình thành chế độ đãi ngộ học thuật hợp lý như cộng điểm học tập, tạo điều kiện tham gia hội thảo, diễn đàn học thuật,…Đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy học viên tự giác rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin, không chỉ để làm tốt nghiên cứu mà còn để khẳng định giá trị bản thân trong quá trình học tập.
3. Kết luận
Bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin cho học viên Hệ 1 là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng NCKH và phát triển phong cách làm việc khoa học của đội ngũ chính ủy trong tương lai. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ, có kiểm tra và đánh giá thường xuyên để mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 (Khóa XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 8 (Khóa XI), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021.
4. Đảng ủy Hệ 1 Học viện Chính trị, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Hệ 1 nhiệm kỳ 2025 – 2030, Hà Nội, 2025.
5. Học viện Chính trị, Báo cáo tổng kết năm học (2021-2022; 2022-2023; 2023-2024).
6. Nguyễn Văn Tượng, Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị, 2016.
7. Vũ Đình Thuận, Giải pháp bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học viên các nhà trường quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số, Học viện Kỹ thuật Quân sự, 2025.