1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

11:24 | 08/01/2026
aA

 

TS Phạm Văn Long - ThS Phạm Văn Định -

Trường Đại học Chính trị

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo trong quân đội, việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị nói chung, môn Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng, chỉ ra những hạn chế trong phương pháp giảng dạy truyền thống, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, góp phần hình thành bản lĩnh chính trị, thế giới quan khoa học, niềm tin và động lực cách mạng cho học viên Trường Sĩ quan Chính trị trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Đổi mới phương pháp giảng dạy, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Sĩ quan chính trị, giáo dục lý luận chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị.

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống các môn lý luận Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trang bị cho học viên nhận thức khoa học về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin vào lý tưởng cách mạng và phương hướng hành động đúng đắn trong công tác, chiến đấu.

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự tác động của các quan điểm sai trái, thù địch, nếu việc giảng dạy môn học này vẫn duy trì phương pháp truyền thống, nặng về thuyết trình, ít tương tác, thiếu tính ứng dụng thực tiễn thì khó có thể phát huy hiệu quả giáo dục chính trị – tư tưởng.

Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy khoa học, năng lực thực tiễn cao.

2. Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp giảng dạy

Đổi mới phương pháp giảng dạy là một thành tố của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực người học. Phương pháp giảng dạy đóng vai trò quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cả người dạy và người học. Phương pháp giảng dạy chịu sự ảnh hưởng của mục tiêu và nội dung bài học, đồng thời nó cũng tác động ngược lại vào nội dung, qua đó giúp thực hiện mục tiêu học tập. Mỗi đối tượng, mỗi mục tiêu cần phương pháp giảng dạy phù hợp, và không tồn tại một phương pháp giảng dạy vạn năng có thể áp dụng cho mọi đối tượng hay mọi mục tiêu. Khi phương pháp dạy học được lựa chọn phù hợp, nó sẽ hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy học, giúp mục tiêu trở nên rõ ràng hơn. Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức và phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [1; tr.136] .

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục là hoạt động có tính sáng tạo, gắn liền với thực tiễn và sự phát triển của xã hội. Do đó, phương pháp giảng dạy phải không ngừng hoàn thiện để phù hợp với trình độ khoa học – công nghệ và điều kiện người học.

Trong đào tạo sĩ quan chính trị, đổi mới phương pháp dạy học môn Chủ nghĩa xã hội khoa học phải bảo đảm các yêu cầu: Giữ vững tính chính trị – tư tưởng của môn học. Phát huy tính chủ động, tư duy phản biện, năng lực vận dụng thực tiễn của học viên. Ứng dụng công nghệ số, phương tiện hiện đại để tăng tính trực quan, sinh động, thuyết phục.

3. Thực trạng giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay

Ưu điểm:

Trong những năm qua, cán bộ, giảng viên các bộ môn ở khoa chủ nghĩa xã hội khoa học đã quán triệt chủ trương đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy của Nhà trường, tích cực, chủ động đẩy mạnh điều chỉnh, đổi mới, tăng cường chuyển đổi phương pháp giảng dạy theo hướng chú trọng đến sự tham gia tích cực của người học ở tất cả các khâu, các bước từ chuẩn bị tình huống phát vấn, khêu gợi, xêmina, bài tập, thu hoạch, tiểu luận, nêu vấn đề, tình huống trong giảng bài, ra đề thi, đáp án kiểm tra, đánh giá chất lượng người học tạo bầu không khí để học viên chủ động giải quyết vấn đề: “khắc phục dứt điểm các khâu yếu, mặt yếu về chất lượng bài giảng, quyết liệt trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, thực chất; gắn đổi mới phương pháp giảng dạy với đánh giá chất lượng giảng viên” [2; tr.9].

Công tác giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học đã đạt được nhiều kết quả tích cực: Nội dung giảng dạy được cập nhật theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chỉ thị của Quân ủy Trung ương. Đội ngũ giảng viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề. Hình thức dạy học bước đầu được đổi mới theo hướng kết hợp thuyết trình – thảo luận – tình huống.

Hạn chế:

Thực tế hoạt động giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học trong những năm qua cho thấy, quá trình giảng bài trên lớp có giảng viên chưa sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, còn mang tính độc thoại nhiều. Phương pháp giảng dạy của một số giảng viên chưa sát với đối tượng, chưa kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp dạy học truyền thống với hiện đại: “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy chưa thực sự quyết liệt; nội dung một số bài giảng chưa bám sát thực tiễn và đối tượng đào tạo” [3; tr.6]. Một bộ phận giảng viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy, chưa mạnh dạn áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại vào thực tiễn sư phạm: “còn quá nặng về truyền đạt kiến thức mà chưa hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực” [4; tr.32];

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của chuyển đổi số trong giáo dục. Hoạt động tự học, nghiên cứu khoa học của học viên còn hình thức, chưa gắn với thực tiễn công tác chính trị ở đơn vị. Một số giảng viên chưa thật sự mạnh dạn đổi mới do ảnh hưởng của thói quen và áp lực thời gian giảng dạy.

4. Giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay

Bước vào năm học 2025 - 2026, trong Báo cáo chính trị và báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ Nhà trường khóa X nhiệm kỳ 2025 - 2030 là: “Đổi mới phương pháp dạy - học tích cực, trọng tâm là nâng cao chất lượng bài giảng và kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại của giảng viên” [5; tr.15]. Quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng ủy Nhà trường, để nâng cao chất lượng giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học, thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học cho đội ngũ giảng viên và học viên.

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, đảm bảo sự thống nhất về nhận thức cả người dạy và người học. Nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc là nhân tố chủ quan của sự hạn chế, thiếu hiệu lực, hiệu quả về đổi mới phương pháp phát huy tính tích cực trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học. Trước hết, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, quán triệt vị trí, vai trò, yêu cầu về đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực của người học trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học.

Nội dung giáo dục, quán triệt phải tập trung ở Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới; Nghị quyết của Đảng ủy Nhà trường: “Bám sát thực tiễn, tập trung đột phá vào đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng bài giảng” [6 ; tr.8]. Thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm: “Tập trung đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người dạy và người học; phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [7]. Đồng thời, thường xuyên trau dồi, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, nhất là khả năng sử dụng một cách linh hoạt ngôn ngữ hình thể, lời nói, ngữ điệu kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp giảng dạy hiện đại phù hợp nhằm tạo sự hứng thú, tính chủ động, sáng tạo của học viên. Hình thức giáo dục, quán triệt phải được thực hiện một cách đa dạng, phong phú phù hợp với từng cơ sở giáo dục, đào tạo, từng cơ quan, đơn vị.

Mỗi học viên chủ động xác định động cơ, thái độ tự học, tự nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học đúng đắn, phù hợp trình độ, khả năng, điều kiện thực tế của bản thân. Xây dựng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt thực hiện kế hoạch tự học, tự nghiên cứu đã xác định: “Động viên tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của người học,..; thực hiện lý luận liên hệ với thực tiễn, lý thuyết đi đôi với thực hành, lấy thực hành làm chính; kết hợp giữa học mới với ôn cũ,... Bồi dưỡng phương pháp tự tìm kiếm, tăng cường tri thức, hình thành năng lực tự học và hợp tác; chú trọng truyền cảm hứng, xây dựng lòng say mê học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện suốt đời cho học viên” [8]. Xây dựng nhận thức, thái độ, động cơ đúng đắn, có niềm tin vào bản thân, say mê, hứng thú để trau dồi tri thức, tìm tòi phương pháp tự học, tự nghiên cứu phù hợp, không máy móc, thụ động, ỷ lại. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong hoạt động tự học, tự nghiên cứu, khai thác một cách tối ưu nhất những điều kiện, tiền đề khách quan của quá trình tự học, nâng cao chất lượng lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên.

Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Đổi mới nội dung dạy học không phải là sự thay đổi nội dung lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học mà chính là nhận thức thực chất về những vấn đề lý luận trong từng những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là trong từng nguyên lý cơ bản, từng nội dung, khi giảng dạy người giảng viên phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử mà các nhà kinh điển chủ nghĩa xã hội nêu ra, đặt nó trong tiến trình đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Và trong giai đoạn hiện nay nói chung, điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam nói riêng thì giá trị định hướng tư tưởng chính trị, lập trường giai cấp công nhân, phương pháp cách mạng… của những vấn đề lý luận cơ bản đó ra sao?; trong thực tiễn những vấn đề mới nảy sinh, nhất là có nội dung hiện nay lịch sử đã vượt qua chủ Mác - Lênin cần phải “nhận thức lại” trong điều kiện mới.

Đổi mới nội dung không chỉ là trong tư duy, nhận thức mà nó phải được thể hiện ra trong bài giảng của giảng viên. Nếu nội dung được chuẩn bị tốt nhưng thiếu phương pháp giảng hay thì bài giảng cũng trở nên khô khan, thiếu tính thuyết phục “Phương pháp giảng dạy là phương pháp tổ chức và rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho học viên” [9; tr.120]. Ngược lại, nếu có phương pháp tốt nhưng người giảng viên không nắm chắc kiến thức lý luận, thiếu kinh nghiệm thực tiễn thì cho dù có “trình bày hay bao nhiêu” thì bài giảng cũng trở thành sáo rỗng, hình thức, hô khẩu hiệu… Qua giảng dạy, có thể thấy nội dung là yếu tố quyết định, còn phương pháp là phương tiện, cách thức để chuyển tải nội dung thông qua sự tương tác giữa người dạy và người học. Chính vì vậy, nhận thức việc đổi mới nội dung gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy chủ nghĩa xã hội không nên máy móc, rập khuôn cứng nhắc, mà nó là sự sáng tạo, uyển chuyển trong từng nội dung, từng cách thức, mang tính nghệ thuật sư phạm cao của người giảng viên.

Xây dựng nội dung bài giảng phù hợp với từng đối tượng học viên, đẩy mạnh áp dụng các phương pháp thảo luận nhóm, sử dụng bài tập tình huống, hỏi - đáp, nêu vấn đề, trao đổi, đối thoại,... để tăng cường sự tương tác, trao đổi, kích thích năng lực tư duy sáng tạo, tạo sự hứng thú cho người học. Chú trọng thiết kế bài giảng theo hướng tăng tính trực quan, sơ đồ hóa, mô hình hóa, sơ đồ tư duy. Thường xuyên cập nhật tình hình chính trị, kinh tế - xã hội thế giới, khu vực, trong nước; tổ chức quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, Quân đội. Tập trung rà soát, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng rút ngắn thời gian học tập lý thuyết, tăng thời gian thực hành, học tập thực tế, tự học của học viên, bảo đảm tính hệ thống, kế thừa, liên thông.

Rà soát, xây dựng, điều chỉnh kịp thời chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo bảo đảm thiết thực, nhất quán với mục tiêu của chương trình đào tạo và liên thông với chuẩn đầu vào của trình độ đào tạo, bậc học cao hơn; tạo cơ hội liên thông giữa chương trình đào tạo cùng trình độ, nhóm ngành đào tạo, đáp ứng yêu cầu sử dụng linh hoạt cán bộ khi tốt nghiệp ra trường: “Chắt lọc, tinh chỉnh nội dung các chương trình đào tạo để giảm tải, bảo đảm tính khả thi, cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiệu quả, có hệ thống, từng bước hiện đại và được cập nhật thường xuyên” [10].

Ba là, phát huy vai trò của từng giảng viên, học viên trong thực hiện dạy học theo mô hình “lớp học đảo ngược”, phương pháp “dạy học đảo chiều”, bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, phương pháp đấu tranh tư tưởng, lý luận cho đội ngũ giảng viên và học viên.

Giảng viên, học viên là hai nhân tố chủ chốt, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo nói chung, chất lượng dạy và học theo mô hình “lớp học đảo ngược” nói riêng. Trong đó, học viên được coi là “trung tâm” của quá trình dạy học; người giảng viên đóng vai trò đạo diễn, định hướng, dẫn dắt người học… Theo đó, mỗi giảng viên phải xác định tốt tinh thần, trách nhiệm, tích cực, chủ động, nghiên cứu tìm tòi đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy. Tập trung đầu tư xây dựng nội dung giáo án bài giảng bảo đảm chất lượng tốt. Chú trọng nghiên cứu đưa ra những câu hỏi, vấn đề, tình huống hay, có tính nghiên cứu để học viên giải quyết, qua đó không chỉ nắm vững, hiểu sâu kiến thức bài học, mà còn góp phần phát triển tư duy khoa học, tư duy lý luận, kỹ năng xử lý, giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả, đồng thời truyền cảm hứng cho học viên trong quá trình học tập. Thường xuyên quán triệt, vận dụng các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Nhà trường và những vấn đề lý luận mới vào giảng dạy. Tích cực nghiên cứu nắm chắc các phương pháp dạy học tích cực để vận dụng vào giảng dạy trong mô hình “lớp học đảo chiều”.

Đối với học viên, với tư cách là “trung tâm” của quá trình dạy học càng phải phát huy tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc mục tiêu, yêu cầu đào tạo; chuẩn đầu ra các học phần, môn học, mỗi học viên trong mô hình lớp học đảo ngược phải tự giác học tập; tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu học tập, đề cương bài giảng của giảng viên, đặc biệt là những câu hỏi, vấn đề, tình huống đặt ra để chuẩn bị trước cho mình các phương án giải quyết. Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu trước tài liệu, giáo trình, đề cương bài giảng, học viên tự mình đặt ra các câu hỏi, vấn đề, tình huống khác để đưa ra trao đổi, thảo luận trên lớp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học theo mô hình “lớp học đảo ngược”.

Quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học luôn gắn với cuộc đấu tranh phản bác các trào lưu tư tưởng phản mác xít, chủ nghĩa cơ hội - xét lại với sự biến dạng tinh vi, khó lường. V.I.Lênin từng chỉ ra: “cả bọn học giả trẻ tuổi chuyên kiếm chác danh lợi qua việc bài bác chủ nghĩa xã hội, cả bọn già nua suy yếu ôm giữ lấy di huấn của tất cả những “hệ thống” đổ nát, đều công kích Mác hăng như nhau” [11; tr.19]. Dù dưới hình thức nào, cũng đều chung một mục đích là nhằm bóp chết chủ nghĩa Mác, loại bỏ mọi ảnh hưởng của nó đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ, duy trì hệ tư tưởng tư sản. Đấu tranh, bảo vệ chủ nghĩa xã hội khoa học trong hoạt động tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ thường trực, đồng thời là động lực của sự phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có gì là lạ nếu học thuyết của Mác, một học thuyết trực tiếp dùng để giáo dục và tổ chức giai cấp tiên tiến của xã hội hiện đại, đã vạch ra nhiệm vụ của giai cấp ấy và chứng minh rằng, do kinh tế phát triển, những trật tự mới nhất định sẽ thay thế chế độ hiện tại; không có gì là lạ nếu mỗi bước tiến của học thuyết ấy trên con đường sinh tồn đều phải kinh qua chiến đấu” [12; tr.19].

Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao tính chiến đấu trong bài giảng chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ hoạt động này, cả người dạy và người học từng bước hình thành các kỹ năng nhận diện, phân tích, đối chiếu, nêu luận cứ phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao tính chiến đấu trong bài giảng đòi hỏi các chủ thể phải được bồi dưỡng, rèn luyện từ thực tiễn đấu tranh tư tưởng, lý luận. Các nhà kinh điển sáng tạo, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học phản ánh trong các tác phẩm dưới dạng bút chiến. Các tác phẩm: “Chống Đuyrinh”; “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta”; “Tư bản”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau Xky”… được coi như mẫu mực cả về nội dung và phương pháp đấu tranh tư tưởng, lý luận. Quá trình bài giảng, giảng viên và học viên vừa làm rõ bản chất của chủ nghĩa xã hội khoa học, vừa bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng đấu tranh, không khoan nhượng với những trào lưu tư tưởng, lý luận đối lập. Bên cạnh đó, giảng viên cần tích cực tham gia các diễn đàn khoa học, sinh hoạt chuyên môn, trao đổi học thuật, tọa đàm, hội thảo để thể hiện chính kiến, quan điểm của mình; đồng thời có cơ hội cọ xát, bồi đắp năng lực tư duy, góp phần nâng cao chất lượng bài giảng.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực bài giảng, đấu tranh tư tưởng, lý luận cho đội ngũ giảng viên bài giảng chủ nghĩa xã hội khoa học, đòi hỏi phải phát huy vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, nhà quản lý, trực tiếp nhất là lãnh đạo, quản lý các khoa giáo viên có nhiệm vụ bài giảng chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời, nêu cao vai trò, trách nhiệm của học viên - đối tượng tương tác trong hoạt động này.

Bốn là, bảo đảm thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học.

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn và lý luận luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và bổ sung cho nhau. C.Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” [13; tr.9-10]. Thông qua thực tiễn, những lý luận của chân lý sẽ được bổ sung, nhận thức lại, vì vậy giá trị của lý luận phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.

Khẳng định mối quan hệ gắn bó, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [14 ; tr.95]. Vì vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản, đồng thời là phương pháp nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị nói chung, trong đó chủ nghĩa xã hội khoa học là một môn khoa học phản ánh những vấn đề quy luật và mang tính quy luật của đời sống chính trị - xã hội càng phải đảm bảo nguyên tắc này.

Yêu cầu thống nhất giữa lý luận với thực tiễn một mặt đòi hỏi mỗi giảng viên phải nắm vững tri thức lý luận, mặt khác phải thường xuyên tự trau dồi tri thức thực tiễn bằng nhiều con đường khác nhau vì thực tiễn là cơ sở của lý luận, là mục đích, là tiêu chuẩn của chân lý và nó luôn vận động, biến đổi không ngừng, nếu không người giảng viên sẽ trở nên lạc hậu với thời cuộc, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ hiện nay. V.I.Lênin đã từng căn dặn: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [15; tr.167]. Nguyên tắc này đòi hỏi những tri thức mà giảng viên cung cấp cho người học phải được chọn lọc, chắt lọc từ những cái điển hình, tiêu biểu, mang tính khái quát của thực tiễn, thống nhất với thực tiễn.

Để nâng cao tính thực tiễn trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học, đòi hỏi giảng viên phải xác định được nội dung nào cần thiết phải liên hệ thực tiễn và đưa loại hình, cấp độ thực tiễn nào thì phù hợp. Những yếu tố thực tiễn đưa vào bài giảng phải mang tính điển hình, có ý nghĩa chung chứ không chỉ ngẫu nhiên mà giảng viên chợt nghĩ ra trong tiết giảng. Phải quan tâm tới các sự kiện thực tiễn mang tính thời sự, đang được xã hội quan tâm nhiều. Mỗi yếu tố thực tiễn đều phải có địa chỉ, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và đảm bảo tính trung thực. Khi đưa thực tiễn vào liên hệ nên có sự phân tích để người học thấy được thực tiễn liên hệ có phù hợp lý luận hay không, thực tiễn đó mang ý nghĩa tiêu cực hay tích cực để định hướng cho người học. Vì vậy, trong từng bài giảng, mỗi quan điểm, nguyên lý, quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mỗi nguyên tắc cơ bản, điều kiện, con đường và hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, giảng viên cần chú trọng liên hệ với thực tiễn trong nước và quốc tế, với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Các sự kiện lịch sử, các tư liệu, số liệu được sử dụng để liên hệ thực tiễn trong bài giảng phải đảm bảo tính xác thực, khách quan, điển hình, có tính thời sự, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực, phải được phân tích, lý giải ở các mức độ khác nhau để đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Trong giảng dạy các nguyên lý chủ nghĩa xã hội khoa học phải gắn kết chặt chẽ với thực tiễn vận động đã và đang diễn ra. Đó là thực tiễn chính trị - xã hội, với những cuộc đấu tranh cách mạng không mệt mỏi của giai cấp công nhân và quần chúng lao động, với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa, những sự kiện đang và sẽ diễn ra của thời đại, thời cuộc… Đồng thời, phải lấy thực tiễn vận động để chứng minh, làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa xã hội khoa học. Việc luận giải làm rõ những nội dung lý luận chủ nghĩa xã hội phải giải quyết thỏa đáng những vấn đề của sự thống nhất và khác biệt, nghịch lý, mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, chú trọng luận giải các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cả thành công hay thất bại, đổ vỡ, để làm sáng tỏ tính khoa học và cách mạng của lý luận. Trên cơ sở đó, định hướng cho người học liên hệ vào từng điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi nước trên thế giới và Việt Nam; đồng thời, vận dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị mình, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người. Qua đó góp phần tạo hứng thú, say mê của người học trong học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, hình thành thói quen gắn lý luận với thực tiễn. Hồ Chí Minh đã xác định phương pháp cơ bản để học chủ nghĩa Mác - Lênin là: Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.

Năm là, thực hiện đồng bộ đổi mới, nâng cao chất lượng đề thi, đáp án gắn với đổi mới nâng cao nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo.

Quá trình giảng dạy đảm bảo học viên lĩnh hội kiến thức về các môn học của học viên theo mục tiêu đào tạo và chương trình, kế hoạch đào tạo đặt ra; đảm bảo cho học viên biết cách tiếp cận, tìm hiểu và có sự hiểu biết cơ bản, toàn diện, sâu sắc thực chất các nội dung môn học và các môn học liên quan. Thông qua đó khắc phục những phương pháp dạy học xuôi chiều, áp đặt, nhồi nhét của giảng viên. Trên cơ sở đó, người giảng viên xác định các biện pháp khắc phục tình trạng học “vẹt”, không hiểu thực chất vấn đề, tìm ra phương pháp thích hợp, kích thích tính sáng tạo cho học viên.

Đề thi, đáp án phải đánh giá được sự hình thành và vận dụng phương pháp luận và hệ thống các phương pháp nghiên cứu đặc thù môn học; đánh giá được năng lực hoạt động thực tiễn chính trị, tay nghề sư phạm, hoạt động nghiên cứu khoa học, năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận của học viên. Đề thi, đáp án phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của giáo dục học quân sự và quy trình chặt chẽ, khoa học trong tổ chức làm và bảo mật. Đồng thời, quá trình làm đề thi, đáp án phải phát huy tốt vai trò của các chủ thể, đảm bảo tính đồng thuận, thống nhất, hiệu quả..

Đổi mới nội dung, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả người học theo hướng “học thực chất, thi thực chất, kết quả thực chất”, chống bệnh thành tích trong học tập. Nội dung thi, kiểm tra toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm bảo đảm thể hiện tính đảng, tính khoa học, tính chiến đấu và tính thực tiễn; phù hợp với trình độ, khả năng của học viên. Tổ chức thi, kiểm tra chặt chẽ, nghiêm túc đúng quy chế. Đánh giá kết quả khách quan, trung thực, phản ánh đúng trình độ, năng lực của người học.

5. Kết luận

Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị là yêu cầu tất yếu khách quan, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hệ thống các giải pháp nêu trên tạo thành một thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, thực hiện tốt giải pháp này là cơ sở để thực hiện tốt các giải pháp còn lại. Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao đổi mới phương pháp giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Sĩ quan Chính trị đòi hỏi các chủ thể phải nắm vững, thực hiện đồng bộ, quyết liệt hệ thống các giải pháp nêu trên.

Chỉ khi đó, môn Chủ nghĩa xã hội khoa học mới thực sự trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

[2]. Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị, Nghị quyết số 801-NQ/ĐU, ngày 31/7/2024 lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2024 - 2025, Hà Nội.

[3], [6]. Trường Sĩ quan Chính trị, Số 2405/BC-SQCT, ngày 31/7/2024 Báo cáo tổng kết năm học 2023 - 2024, Hà Nội.

[4]. Phan Chí Thành (Chủ biên), “Cách mạng công nghiệp 4.0 - xu thế phát triển của giáo dục trực tuyến”, Tạp chí Giáo dục, 2018, số 421.

[5]. Đảng ủy Trường Sĩ quan Chính trị, Báo cáo chính trị và báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ Nhà trường khóa X tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XI nhiệm kỳ 2025 -2030, Hà Nội. 2025.

[7]. Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 91- KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Hà Nội.

[8], [10]. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 “Về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới”, Hà Nội.

[9]. Lý luận dạy học đại học quân sự trong các nhà trường Quân đội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003.

[11], [12]. V.I.Lênin toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, H. 2005.

[13]. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 1995.

[14]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011.

[15]. V.I.Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2005.

 

 

Ý kiến bạn đọc
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA”  VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).