1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI THÔNG QUA GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHO MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

05:15 | 02/05/2026
aA

 

Trần Đình Tuấn

Chi bộ tổ dân phố 13 Quang Trung, phường Hà Đông, Hà Nội

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu và thách thức mới. Bài viết phân tích vai trò của giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong kỷ nguyên số, chỉ ra những hạn chế của phương thức truyền thống, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới nội dung, hình thức và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, góp phần củng cố bản sắc dân tộc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: chủ nghĩa yêu nước, giáo dục, chuyển đổi số, công nghệ, Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Chủ nghĩa yêu nước là giá trị cốt lõi, xuyên suốt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước không chỉ dừng lại ở các phương thức truyền thống mà cần có sự đổi mới toàn diện để phù hợp với đặc điểm của xã hội hiện đại.

Kỷ nguyên số với sự bùng nổ của internet, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đã làm thay đổi cách con người tiếp cận thông tin, học tập và tương tác xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước nhằm đảm bảo tính hấp dẫn, hiệu quả và phù hợp với mọi đối tượng công dân.

Đại tá, PGS.TS. NGƯT Trần Đình Tuấn - Nói chuyện với học sinh Trường THPT Đông Đô, Tây Hồ, Hà Nội,

nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, ngày 26/3/2026

2. Cơ sở lý luận của giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong kỷ nguyên mới

2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa yêu nước

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa yêu nước là một phạm trù lịch sử - xã hội, gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc và quốc gia. Chủ nghĩa yêu nước chân chính không tách rời chủ nghĩa quốc tế vô sản, mà thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân loại tiến bộ.

Trong điều kiện hiện nay, chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện không chỉ ở tinh thần bảo vệ Tổ quốc mà còn ở sự tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa và hội nhập quốc tế.

2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chủ nghĩa yêu nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chủ nghĩa yêu nước là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người, kết tinh từ truyền thống yêu nước của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và được phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là nền tảng lý luận quan trọng định hướng cho hoạt động giáo dục chính trị – tư tưởng ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

Thứ nhất, khẳng định chủ nghĩa yêu nước là giá trị cốt lõi và động lực của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của chủ nghĩa yêu nước như một sức mạnh nội sinh to lớn của dân tộc. Trong tác phẩm Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (1947), Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta… Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” (Hồ Chí Minh, 1947). Quan điểm này cho thấy giáo dục chủ nghĩa yêu nước không chỉ là truyền đạt tri thức mà còn là khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Thứ hai, giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn liền với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, lòng yêu nước chân chính không tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10). Do đó, giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải giúp người học hiểu rõ mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân loại tiến bộ; từ đó hình thành lý tưởng sống đúng đắn, sẵn sàng cống hiến vì sự nghiệp chung.

Thứ ba, nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc hình thành và phát triển lòng yêu nước

Hồ Chí Minh coi giáo dục là con đường cơ bản để bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” (Hồ Chí Minh, 1958). Trong đó, giáo dục lòng yêu nước cần được tiến hành một cách toàn diện, liên tục, từ gia đình, nhà trường đến xã hội. Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thanh niên, coi đây là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, nội dung giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải toàn diện, gắn với thực tiễn đời sống

Theo Hồ Chí Minh, giáo dục lòng yêu nước không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi truyền thống mà phải gắn với hành động cụ thể trong lao động, học tập và chiến đấu. Người nhấn mạnh: yêu nước là phải “ra sức thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí” (Hồ Chí Minh, 1952). Điều này cho thấy nội dung giáo dục cần cụ thể hóa lòng yêu nước thành những hành vi thiết thực, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và điều kiện xã hội.

Thứ năm, phương pháp giáo dục phải nêu gương và kết hợp giữa “xây” và “chống”

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng phương pháp nêu gương trong giáo dục. Người cho rằng: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5). Bên cạnh đó, giáo dục chủ nghĩa yêu nước cần kết hợp giữa việc xây dựng những giá trị tích cực (yêu nước, đoàn kết, trách nhiệm) và đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực như chủ nghĩa cá nhân, thờ ơ với vận mệnh đất nước.

Thứ sáu, giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn với tinh thần quốc tế trong sáng

Một điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Người khẳng định: “Giúp bạn là tự giúp mình” (Hồ Chí Minh, 1966). Do đó, giáo dục lòng yêu nước không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà còn hướng tới tinh thần đoàn kết quốc tế, hợp tác và hòa bình – điều đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và thời đại số hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chủ nghĩa yêu nước mang tính toàn diện, sâu sắc và có giá trị thời đại. Những quan điểm của Người về vai trò, nội dung và phương pháp giáo dục không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn là cơ sở lý luận quan trọng cho việc đổi mới giáo dục chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

2.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định chủ nghĩa yêu nước là giá trị cốt lõi của hệ tư tưởng, là động lực tinh thần to lớn của dân tộc. Bước vào thời đại số, quan điểm này tiếp tục được kế thừa và phát triển, gắn với yêu cầu mới của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Thứ nhất, khẳng định vai trò nền tảng của chủ nghĩa yêu nước trong hệ giá trị quốc gia

Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị bền vững, xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam. Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XIII của Đảng khẳng định: cần “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” nhằm tạo động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Trong bối cảnh chuyển đổi số, lòng yêu nước không chỉ thể hiện ở tinh thần bảo vệ độc lập, chủ quyền mà còn ở trách nhiệm tham gia phát triển kinh tế số, xã hội số và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ hai, gắn giáo dục chủ nghĩa yêu nước với giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức, lối sống

Đảng và Nhà nước xác định giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải được đặt trong tổng thể giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 42-CT/TW về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ”, trong đó nhấn mạnh việc bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân trong bối cảnh mới. Trong thời đại số, nội dung này được mở rộng sang việc hình thành “công dân số có trách nhiệm”, biết sử dụng công nghệ vì lợi ích quốc gia, dân tộc và cộng đồng.

Thứ ba, coi trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Sự phát triển của Internet và mạng xã hội đặt ra yêu cầu mới đối với giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Bộ Chính trị trong Nghị quyết 35-NQ/TW đã xác định nhiệm vụ “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Điều này đòi hỏi giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải giúp người học nâng cao “sức đề kháng” trước các thông tin xấu độc, nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, đồng thời chủ động lan tỏa thông tin tích cực, góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh.

Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị yêu nước

Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ số trong giáo dục nói chung và giáo dục giá trị, tư tưởng nói riêng. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020), trong đó xác định giáo dục là một trong những lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số. Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục chủ nghĩa yêu nước giúp đổi mới phương thức truyền đạt, tăng tính tương tác, cá nhân hóa việc học và mở rộng không gian giáo dục vượt ra ngoài lớp học truyền thống.

Thứ năm, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại số

Đảng và Nhà nước luôn coi thanh niên là lực lượng xung kích trong công cuộc đổi mới và chuyển đổi số. Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh triển khai nhiều chương trình nhằm giáo dục lòng yêu nước gắn với khởi nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số và tình nguyện vì cộng đồng. Quan điểm này nhấn mạnh rằng lòng yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay không chỉ thể hiện qua nhận thức và tình cảm, mà còn qua hành động cụ thể như học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, và đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong môi trường số hóa.

Thứ sáu, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam phù hợp với thời đại số

Một trong những định hướng lớn của Đảng là xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước được đặt ở vị trí trung tâm, gắn với các giá trị như nhân ái, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo. Trong bối cảnh số hóa, các giá trị này cần được cụ thể hóa thành chuẩn mực hành vi trên không gian mạng, góp phần hình thành văn hóa số lành mạnh, văn minh và giàu bản sắc dân tộc.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong thời đại số thể hiện sự kế thừa truyền thống và thích ứng linh hoạt với bối cảnh mới. Việc nhấn mạnh vai trò của công nghệ, không gian mạng và thế hệ trẻ đã mở ra những định hướng quan trọng cho việc đổi mới nội dung và phương thức giáo dục, góp phần xây dựng con người Việt Nam vừa “hồng” vừa “chuyên” trong kỷ nguyên số.

2.4. Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong kỷ nguyên mới

2.4.1. Đặc điểm phát triển của xã hội Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Đặc điểm của kỷ nguyên mới là sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng trên mọi lĩnh vực, cùng với đó là sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo AI làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, nhiều lĩnh vực hoạt động mới. Điều đó đã và đang làm thay đổi cơ cấu lực lượng lao động dẫn đến thay đổi cơ cấu các giai tầng xã hội.

Sự phân tầng xã hội, xuất hiện những nhóm người lao động thuộc những giai tầng xã hội mới. Ví dụ: Có những địa phương, người nông dân vừa làm nông dân vừa làm công nhân cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, xí nghiệp ở địa phương. Một lực lượng khá lớn người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài với các nghề nghiệp khác nhau, thời gian khác nhau…

Đặc điểm trên đây, đòi hỏi mọi người từ các chế độ xã hội khác nhau phải biết tôn trọng sự khác biệt và biết chung sống cùng nhau.

2.4.2. Nhận thức lại nội dung, phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho mọi người dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Lòng yêu nước - Chủ nghĩa yêu nước – Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa là những nấc thang của sự phát triển. Không phải cứ có lòng yêu nước là đã có nhận thức đầy đủ về chủ nghĩa yêu nước, hay chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Muốn có được chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa thì trước hết phải có lòng yêu nước, có hiểu biết khoa học về chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc. Không thể giáo dục Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa cho mọi người dân Việt Nam khi mà đất nước đã trải qua những giai đoạn lịch sử với những hệ tư tưởng chính trị của các chế độ xã hội khác nhau, khi mà một bộ phận nguy quân, ngụy quyền vẫn còn tìm mọi cách chống phá chế độ.

Vì vậy, giáo dục Chủ nghĩa yêu nước cho mọi người dân Việt Nam phải được phân hóa mục tiêu, phân hóa nội dung, phân hóa phương thức cho phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho mọi người dân Việt Nam phải được thực hiện như một mặt trân tập hợp mọi người dân, mọi giai tầng thành một lực lượng xã hội cùng có chung lòng yêu nước, có hiểu biết về chủ nghĩa yêu nước truyền thống của người dân Việt Nam.

Cấu trúc 3 tầng của nội dung giáo dục Chủ nghĩa yêu nước cho mọi người dân Việt Nam.

Tầng thứ nhất: Nội dung, phương thức Giáo dục Chủ nghĩa yêu nước truyền thống cho mọi người dân Việt Nam cả trong nước và ngoài nước.

Tầng thứ hai: Nội dung, phương thức giáo dục Chủ nghĩa yêu nước truyền thống định hướng yêu nước xã hội chủ nghĩa. Nội dung này dành cho những người Việt Nam cả trong nước, ngoài nước muốn tìm hiểu về Chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Tầng thứ ba: Nội dung, phương thức giáo dục Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa cho người dân Việt Nam. Nội dung này dành cho giáo dục cán bộ, đảng viên, và các tổ chức xã hội, đoàn thể, các lực lượng quần chúng nhân dân đang cùng nhau xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu của chương trình giáo dục này nhằm thu hút mọi người dân Việt Nam, kể cả những người có sự khác biệt về nguồn gốc, hệ tư tưởng cùng hướng tới một tinh thần chung là yêu nước Việt Nam. Đồng thời, định hướng giáo dục nâng cao chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa cho những lực lượng thân thiện với sự đổi mới, phát triển của đất nước. Tạo ra mối quan hệ giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa. Trong đó, giáo dục Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa là mục tiêu trung tâm, thuộc tầng bậc cao nhất.

2.4.3. Phê phán những quan điểm sai lệch trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho mọi người dân Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, ý thức công dân và tinh thần trách nhiệm xã hội cho mỗi người Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn tồn tại không ít quan điểm sai lệch, thậm chí xuyên tạc về nội dung, phương thức và mục tiêu của giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Những quan điểm này cần được nhận diện rõ và phê phán một cách khoa học, khách quan.

Trước hết, cần phê phán quan điểm đồng nhất chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng cực đoan, hẹp hòi, bài ngoại. Một số ý kiến cho rằng giáo dục lòng yêu nước dễ dẫn đến tâm lý dân tộc chủ nghĩa cực đoan, gây chia rẽ trong quan hệ quốc tế. Đây là cách hiểu phiến diện và sai lệch. Chủ nghĩa yêu nước chân chính của Việt Nam luôn gắn với tinh thần nhân văn, hòa bình, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước không nhằm tạo ra sự đối lập mà hướng tới xây dựng bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế. Việc xuyên tạc bản chất này vô tình hoặc hữu ý làm suy giảm niềm tin của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Thứ hai, cần bác bỏ quan điểm cho rằng giáo dục chủ nghĩa yêu nước là “lạc hậu”, không còn phù hợp trong thời đại kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu. Một số người cho rằng trong nền kinh tế hiện đại, cần đề cao lợi ích cá nhân và kỹ năng nghề nghiệp hơn là giáo dục lý tưởng và tinh thần dân tộc. Đây là cách nhìn thiển cận, đánh đồng giữa phát triển kinh tế với xem nhẹ nền tảng tinh thần. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia phát triển đều đặc biệt coi trọng giáo dục lòng yêu nước như một yếu tố cốt lõi để duy trì sự ổn định và phát triển bền vững. Ở Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước chính là động lực tinh thần to lớn giúp dân tộc vượt qua mọi khó khăn trong lịch sử và tiếp tục là nguồn lực nội sinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, cần phê phán quan điểm giản đơn hóa nội dung giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền khẩu hiệu, hình thức hoặc áp đặt một chiều. Một số cách tiếp cận cứng nhắc, thiếu sáng tạo đã làm cho giáo dục chủ nghĩa yêu nước trở nên khô khan, thiếu sức thuyết phục, dẫn đến tâm lý thờ ơ trong một bộ phận người học. Tuy nhiên, thay vì phủ nhận giá trị của chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, cần đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn đời sống, phát huy tư duy phản biện và trải nghiệm của người học. Phê phán cách làm chưa phù hợp không đồng nghĩa với phủ nhận bản chất và vai trò của giáo dục lòng yêu nước.

Thứ tư, cần lên án những luận điệu lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Đảng và Nhà nước trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa. Một số thế lực thù địch cố tình bóp méo thông tin, cho rằng giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa là công cụ “tuyên truyền chính trị” mang tính áp đặt. Đây là quan điểm sai trái, nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng của xã hội. Thực chất, giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở khoa học, gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng này là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội.

Thứ năm, cần phê phán quan điểm cực đoan gắn giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa cho mọi đối tượng. Một số người có quan điểm cực đoan cho rằng, ngày nay yêu nước nhất thiết phải gắn với yêu chế độ. Họ cho rằng, không thể giáo dục chủ nghĩa yêu nước mà không gắn với yêu chế độ. Đó là nhận thức thiếu tính biện chứng, thiếu hiểu biết thực tiễn, không phù hợp với đặc điểm và lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Nhận thức sai lệch đó dẫn đến việc không tập hợp được đông đảo mọi lực lượng xã hội, nhất là kiều bào ở nước ngoài vào một mặt trận chung của Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Thứ sáu, cần phê phán tâm lý thờ ơ, coi nhẹ giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ. Trong môi trường số, sự bùng nổ thông tin đa chiều khiến nhiều người dễ bị tác động bởi các giá trị lệch chuẩn, từ đó giảm sút ý thức trách nhiệm với cộng đồng và quốc gia. Đây không chỉ là vấn đề nhận thức cá nhân mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng giáo dục CNXN theo hướng linh hoạt, hấp dẫn và phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng đối tượng.

Tóm lại, việc phê phán những quan điểm sai lệch về giáo dục chủ nghĩa yêu nước là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ và phát huy giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Điều này không chỉ góp phần củng cố niềm tin xã hội mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong thời đại mới.

3. Giải pháp đổi mới phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, giáo dục chủ nghĩa yêu nước cần được đổi mới cả về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức nhằm phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu và môi trường sống của người học hiện nay. Dưới đây là một số giải pháp trọng tâm:

3.1. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn

Nội dung giáo dục chủ nghĩa yêu nước cần được cập nhật theo hướng vừa kế thừa giá trị truyền thống, vừa phản ánh những yêu cầu mới của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Bên cạnh việc nhấn mạnh lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, cần chú trọng làm rõ các biểu hiện của lòng yêu nước trong thời đại mới như: tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm công dân, ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, và đóng góp vào phát triển bền vững. Đồng thời, nội dung giáo dục cần gắn với các vấn đề thời sự, các tấm gương người tốt – việc tốt, qua đó giúp người học nhận thức rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của bản thân đối với đất nước.

3.2. Đa dạng hóa phương pháp giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực của người học

Cần chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang các phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm. Một số phương pháp hiệu quả bao gồm: thảo luận nhóm, học tập dự án, tình huống thực tiễn, đóng vai, và tranh biện.
Thông qua các hoạt động này, người học không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn được trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, từ đó hình thành tình cảm và niềm tin sâu sắc đối với Tổ quốc. Việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn sẽ giúp giáo dục chủ nghĩa yêu nước trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

3.3. Tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giáo dục

Công nghệ số mở ra nhiều cơ hội để đổi mới phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Cần khai thác hiệu quả các nền tảng học tập trực tuyến, mạng xã hội, video, podcast và các sản phẩm truyền thông số nhằm truyền tải nội dung giáo dục một cách linh hoạt, hấp dẫn. Việc xây dựng các bài giảng điện tử, phim tài liệu, bảo tàng ảo, hoặc các ứng dụng thực tế ảo (VR/AR) về lịch sử dân tộc sẽ giúp người học có trải nghiệm trực quan, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục. Đồng thời, cần định hướng người học sử dụng không gian mạng một cách có trách nhiệm, góp phần lan tỏa giá trị tích cực về lòng yêu nước.

3.4. Gắn giáo dục chủ nghĩa yêu nước với hoạt động trải nghiệm và thực tiễn xã hội

Các hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích lịch sử, hoạt động tình nguyện, phong trào thanh niên… là môi trường quan trọng để giáo dục lòng yêu nước một cách sâu sắc. Thông qua việc tham gia các hoạt động vì cộng đồng, bảo vệ môi trường, hỗ trợ vùng khó khăn, người học sẽ được rèn luyện ý thức trách nhiệm, tinh thần cống hiến – những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa yêu nước trong đời sống hiện đại. Kết quả của giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải được đánh giá bằng những hoạt động thực tiễn cống hiến cho tổ quốc bằng những công việc cụ thể phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân.

3.5. Phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội

Đối với học sinh, sinh viên, giáo dục chủ nghĩa yêu nước cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội. Gia đình là môi trường đầu tiên hình thành tình cảm yêu nước; nhà trường giữ vai trò định hướng, tổ chức; còn xã hội tạo điều kiện thực hành và lan tỏa giá trị. Cần tăng cường sự liên kết giữa các lực lượng giáo dục thông qua các chương trình phối hợp, hoạt động cộng đồng và truyền thông xã hội nhằm tạo nên môi trường giáo dục toàn diện.

Cần phải phân định chức năng, nhiệm vụ cho từng tổ chức, cá nhân giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong việc tổ chức giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học sinh, sinh viên. Trong đó có sự bắt buộc và động viên khuyến khích việc phối hợp các lực lượng cùng tham gia giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học sinh, sinh viên.

3.6. Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục

Đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc truyền tải và lan tỏa giá trị của chủ nghĩa yêu nước. Do đó, cần bồi dưỡng năng lực chuyên môn, phương pháp sư phạm hiện đại, cũng như bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức cho giáo viên.
Giáo viên không chỉ là người giảng dạy mà còn là tấm gương về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân, qua đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của người học.

4. Kết luận

Đổi mới phương thức giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong kỷ nguyên số là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng sự phát triển của xã hội hiện đại. Việc kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, củng cố niềm tin, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân.

Trong thời gian tới, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và toàn xã hội để triển khai hiệu quả các giải pháp đề ra, góp phần xây dựng một thế hệ công dân Việt Nam vừa giàu lòng yêu nước, vừa có năng lực hội nhập quốc tế trong thời đại số.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh (1951), “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1951–1952), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, trang 38-39.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Hoàng Chí Bảo (2019), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Trần Đình Tuấn (20212), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).