1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ PHÂN LUỒNG HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững

06:22 | 02/12/2025
aA

 

PGS.TS. Tô Bá Trượng -

Viện Nghiênc cứu hợp tác phát triển giáo dục

 

Đặt vấn đề

Đổi mới giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông trong kỷ nguyên số: Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững là một chủ đề có ý nghĩa thiết thực và cấp bách trong thời đại số. Trong nhiều năm công tác, được làm việc với giáo viên, phụ huynh và đặc biệt là học sinh ở nhiều vùng miền, tôi nhận thấy một thực tế việc định hướng nghề nghiệp, con đường tương lai của học sinh, thường được quyết định trong tình trạng thiếu dữ liệu, thiếu sự chuẩn bị và chịu ảnh hưởng mạnh của tâm lý xã hội.

Trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển với tốc độ chưa từng có, chuyển đổi số lan rộng trong mọi lĩnh vực, việc đổi mới mạnh mẽ giáo dục hướng nghiệp và phân luồng không còn dừng lại ở yêu cầu chuyên môn, mà đã trở thành nhiệm vụ cấp bách để đáp ứng sự phát triển của quốc gia. Tôi xin phép được trình bày bài viết này với ba nội dung lớn: Bối cảnh, thách thức; nhìn nhận lại những hạn chế; và đề xuất giải pháp đổi mới một cách căn cơ, bền vững.

1. Bối cảnh và tính cấp thiết của công tác hướng nghiệp – phân luồng

Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà tri thức, công nghệ và dữ liệu thay đổi từng ngày. Nhiều báo cáo quốc tế cho thấy 40% kỹ năng trong các nghề hiện tại sẽ thay đổi trong 5 năm tới, trên 100 loại nghề mới xuất hiện, đa phần thuộc nhóm STEM – kỹ thuật – công nghệ, nhân lực trung cấp – cao đẳng kỹ thuật đang thiếu trầm trọng ở nhiều quốc gia.

Ở Việt Nam, sự thay đổi đó thể hiện rất rõ một số ngành nghề truyền thống đang dần thu hẹp, các ngành công nghiệp mới như bán dẫn, AI, logistics thông minh phát triển nhanh, doanh nghiệp liên tục kêu thiếu nhân lực chất lượng, nhưng trường học lại chưa đào tạo kịp.

Trong khi đó, hệ thống trường phổ thông, nơi chuẩn bị nền tảng cho tương lai học sinh – vẫn còn gặp nhiều lúng túng trong công tác hướng nghiệp. Đó là lý do tôi cho rằng, đổi mới công tác hướng nghiệp – phân luồng chính là đổi mới tư duy phát triển nguồn nhân lực, góp phần xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

2. Thực trạng những nỗ lực đáng trân trọng nhưng chưa tương xứng kỳ vọng

Nhìn lại thực tiễn những năm qua, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng.

2.1. Những điểm sáng

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định rõ vai trò của hướng nghiệp; Nhiều trường bắt đầu tổ chức ngày hội nghề nghiệp, tham quan xưởng sản xuất, khu công nghệ cao; Một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… đã có mô hình phối hợp khá tốt giữa nhà trường, doanh nghiệp, trường nghề; Nhận thức của phụ huynh từng bước thay đổi, đặc biệt các gia đình trẻ.

Nhưng nhìn rộng ra cả nước, đặc biệt khu vực nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, chúng ta phải thẳng thắn nhận định đã có nhiều chuyển biến tích cực.

2.2. Những hạn chế còn rất lớn

- Hướng nghiệp còn mang tính sự kiện, phong trào. Nhiều trường tổ chức 1–2 buổi tư vấn, học sinh nghe xong rồi để đó, Không có dữ liệu theo dõi, không có hồ sơ phát triển nghề nghiệp.

- Giáo viên thiếu năng lực tư vấn chuyên nghiệp. Đa số giáo viên kiêm nhiệm, phương pháp tư vấn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm cá nhân, ít sử dụng công cụ đánh giá năng lực, sở thích, tính cách.

- Phụ huynh còn nặng tư tưởng “đại học bằng mọi giá”. Điều này đặc biệt phổ biến ở các gia đình công chức và ở nhiều tỉnh thành, tâm lý này tạo áp lực lớn cho học sinh và gây cản trở cho phân luồng.

- Các trường THCS gần như chưa phân luồng. Tỷ lệ học sinh sau THCS vào trung cấp nghề còn thấp, một phần vì thiếu mô hình đào tạo nghề phù hợp lứa tuổi, một phần vì xã hội vẫn chưa thực sự tin tưởng vào giáo dục nghề nghiệp.

- Chưa ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Trong khi thế giới đã dùng AI, hồ sơ nghề nghiệp số, mô phỏng nghề nghiệp (job simulation), thì ở nhiều nơi ta vẫn đang làm theo cách truyền thống: giấy tờ, lời khuyên chung chung, thiếu dữ liệu thị trường lao động.

Những hạn chế trên khiến công tác phân luồng gặp nhiều khó khăn, chưa đạt mục tiêu của Nghị quyết 29 và Chiến lược phát triển giáo dục 2021–2030.

3. Yêu cầu mới trong kỷ nguyên số

Trong kỷ nguyên số, hướng nghiệp không chỉ là chọn nghề, mà là chọn lộ trình học tập suốt đời. Học sinh cần được trang bị ba năng lực cốt lõi như năng lực tự khám phá bản thân (Self-exploration), hiểu mình thích gì, mạnh gì, phù hợp với môi trường làm việc nào; năng lực hiểu biết về nghề (Career literacy), biết nghề nào đang phát triển, nghề nào sắp biến mất, nghề nào cần kỹ năng mới; năng lực thích ứng (Adaptability), không chỉ “học một nghề làm một đời”, mà chuẩn bị tâm thế linh hoạt, học tập liên tục. Để làm được điều này, nhà trường cần chuyển từ tư duy giới thiệu nghề sang phát triển năng lực nghề; chuyển từ tiếp cận thông tin sang tiếp cận dữ liệu; chuyển từ hướng nghiệp rời rạc sang hệ thống hướng nghiệp suốt 3 năm THPT – 4 năm THCS.

4. Hệ thống giải pháp đổi mới căn cơ – hiệu quả – bền vững

4.1. Đổi mới nhận thức: Làm rõ giá trị của phân luồng

Phải coi phân luồng không phải là “tách dòng mạnh – yếu” mà là đặt học sinh vào con đường phù hợp nhất với năng lực và cơ hội phát triển lâu dài.

Cần truyền thông mạnh hơn về giá trị kinh tế, xã hội của giáo dục nghề nghiệp, lộ trình học tập mở (học nghề vẫn có thể lên đại học), những tấm gương thành công từ con đường nghề nghiệp.

4.2. Hoàn thiện chương trình hướng nghiệp trong trường phổ thông

Chương trình hướng nghiệp phải được thiết kế theo lộ trình 6 năm từ lớp 6–12 với các mức độ khác nhau. Ở THCS giúp học sinh khám phá bản thân, hình thành hứng thú nghề. Ở THPT tập trung đánh giá năng lực, phát triển kỹ năng nghề, lập kế hoạch nghề nghiệp.

Các hoạt động cần được đa dạng hóa như dự án hướng nghiệp theo nhóm, mô phỏng nghề nghiệp, thực hành trải nghiệm trong doanh nghiệp, thực hiện “Ngày một buổi làm việc thực tế” (One-day job shadowing)

4.3. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo

Đây là giải pháp mang tính đột phá.

Một là: Xây dựng hồ sơ nghề nghiệp số cho mỗi học sinh, hồ sơ này cập nhật hằng năm, liên thông với dữ liệu của nhà trường và cơ sở đào tạo nghề.

Hai là: Ứng dụng AI trong tư vấn hướng nghiệp. AI phân tích năng lực qua kết quả học tập, hành vi học tập, phong cách tư duy, AI đề xuất nghề phù hợp theo từng hồ sơ cá nhân, AI cảnh báo nghề có rủi ro cao trước tác động của tự động hóa.

Ba là: Phát triển sàn dữ liệu nghề nghiệp quốc gia. Kết nối dữ liệu từ Bộ GD&ĐT, doanh nghiệp và thị trường lao động. Đây chính là bước chuyển từ hướng nghiệp truyền thống sang hướng nghiệp dựa trên dữ liệu (data-driven career guidance).

4.4. Phát triển đội ngũ giáo viên và chuyên gia hướng nghiệp

Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định. Cần xây dựng chứng chỉ hướng nghiệp chuyên nghiệp cho giáo viên, tổ chức tập huấn hàng năm về kỹ thuật tư vấn, sử dụng phần mềm, ứng dụng AI, khuyến khích hình thành Câu lạc bộ giáo viên hướng nghiệp ở từng địa phương.

Giáo viên hướng nghiệp phải được nhìn nhận như một chuyên gia phát triển tương lai học sinh, không chỉ là người “giới thiệu các nghề”.

4.5. Xây dựng mô hình liên kết Nhà trường – Doanh nghiệp – Giáo dục nghề nghiệp

Tôi cho rằng đây là giải pháp quan trọng nhất tạo ra sự chuyển biến thực chất.

Nhà trường tổ chức chương trình hướng nghiệp theo lộ trình, quản lý hồ sơ nghề nghiệp số.

Doanh nghiệp tiếp nhận học sinh tham quan, thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp hỗ trợ tư vấn lộ trình học tập, tổ chức trải nghiệm mô phỏng và đào tạo ngắn hạn.

Ba bên cùng phối hợp sẽ tạo thành một hệ sinh thái hướng nghiệp hoàn chỉnh.

4.6. Nhóm giải pháp chính sách

Chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh học nghề, tăng tỷ lệ ngân sách cho hoạt động hướng nghiệp ở các trường phổ thông, quy định chỉ tiêu bắt buộc về xây dựng hồ sơ nghề nghiệp số trong trường học, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hướng nghiệp thông qua ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ truyền thông.

5. Một số kiến nghị

- Đối với Bộ GD&ĐT cần ban hành khung hướng nghiệp thống nhất trên toàn quốc, triển khai hệ thống dữ liệu nghề nghiệp quốc gia kết nối với trường học, đưa tiêu chí “chất lượng hướng nghiệp” vào đánh giá trường phổ thông.

- Đối với UBND tỉnh/thành phố cần thành lập Trung tâm Hướng nghiệp & Phân luồng số cấp tỉnh, đầu tư kinh phí cho hoạt động trải nghiệm nghề thực chất.

- Đối với nhà trường phải xây dựng tổ hướng nghiệp chuyên trách, liên kết ít nhất 10 doanh nghiệp theo từng nhóm nghề, dưa hoạt động hướng nghiệp vào KPI đánh giá hiệu quả quản lý.

6. Kết luận:

Đổi mới hướng nghiệp – viên gạch đầu tiên xây dựng tương lai học sinh. Hướng nghiệp và phân luồng không chỉ là câu chuyện của giáo dục, mà là câu chuyện của phát triển đất nước. Giải quyết tốt vấn đề này đồng nghĩa với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động, khắc phục “thừa thầy – thiếu thợ”, và quan trọng nhất: giúp mỗi học sinh tìm đúng con đường của mình.

Trong kỷ nguyên số, nơi mà tri thức và kỹ năng đổi thay từng ngày, càng cần hơn bao giờ hết một hệ thống hướng nghiệp tiên tiến, dựa trên khoa học, trên dữ liệu và trên mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp – xã hội. Với sự nỗ lực chung, công tác hướng nghiệp của chúng ta sẽ không chỉ “đúng”, mà còn “trúng”, “thực chất” và “hiệu quả bền vững”.

-----------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể. Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hà Nội.

3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2022). Báo cáo thị trường lao động Việt Nam. Hà Nội.

4. Chính phủ (2020). Quyết định 522/QĐ-TTg về Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh giáo dục phổ thông giai đoạn 2018–2025.

5. Chính phủ (2021). Chiến lược phát triển giáo dục 2021–2030, tầm nhìn 2045. Hà Nội.

6. Nguyễn Đức Minh (2021). Phân luồng học sinh phổ thông: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 12/2021.

7. Nguyễn Thị Hải Hà (2022). Hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông: Kinh nghiệm và khuyến nghị. Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 198(3).

8. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2020). Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hà Nội.

9. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (2023). Báo cáo thường niên về tuyển sinh GDNN và nhu cầu nhân lực theo ngành nghề.

10. Trần Thị Thu Hằng (2021). Mối quan hệ giữa thị trường lao động và phân luồng giáo dục phổ thông. Tạp chí Khoa học Lao động – Xã hội, số 8.

Tài liệu tiếng Anh

11. UNESCO (2021). Career Guidance Policy and Practice in the Asia-Pacific Region. Paris: UNESCO Publishing.

12. OECD (2020). Dream Jobs? Teenagers’ Career Aspirations and the Future of Work. OECD Publishing.

13. OECD (2021). Career Readiness: A Handbook for Policy Makers. Paris: OECD Publishing.

14. ILO (2022). Skills Development and the Future of Work in Asia and the Pacific. Geneva: ILO.

15. World Bank (2020). Vietnam: Enhancing School-to-Work Transition. Washington, DC: World Bank.

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐẶT TÊN BÚT DANH  CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
Lê Thị Hương Lan- Đại học Phenikaa Email: [email protected] Tóm tắt: Bút danh với tư cách là một trong những loại tên gọi chiếm vị trí khá quan trọng trong hệ thống tên người hiện vẫn còn là một mảng đề tài thú vị và khá mới mẻ. Bài viết này sẽ tiến hành miêu tả cấu tạo và phương thức đặt tên bút danh của các nhà văn Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945 nhằm góp phần khẳng định vai trò quan trọng của tên riêng chỉ người trong hệ thống tên riêng tiếng Việt và góp phần tìm hiểu phong cách của các nhà văn thông qua tên bút danh của họ. Từ khóa: bút danh, tên riêng, tên người
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).