Để thực hiện tốt hơn nữa tư tưởng “Thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,…” trong đổi mới quản lí giáo dục hiện nay
PGS.TS Nguyễn Gia Cầu
Viện NCHTPT Giáo dục
Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.
Mở đầu
Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 29 /NQTU về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục &đào tạo là giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giáo dục Việt Nam cần mạnh mẽ đổi mới để bắt kịp xu thế phát triển. Tư tưởng “thực học — thực nghiệp, dạy tốt — học tốt” – kết hợp kiến thức gắn liền kỹ năng, sáng tạo và hiệu quả – trở thành kim chỉ nam quan trọng. Thực học là học để hiểu và áp dụng thực tiễn; thực nghiệp là làm để hiện thực hóa kiến thức; dạy tốt là nâng cao chất lượng giảng dạy; học tốt là học với thái độ tích cực, chủ động và sáng tạo.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình, bước đi phù hợp.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập việc thực hiện một luận điểm trong mục tiêu tổng quát của Nghi quyết 29/NQTW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,… đó là nội dung “Thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,…” trong đổi mới quản lí giáo dục những năm vừa qua.

Ảnh: Minh họa
Nội dung nghiên cứu
1. Ý nghĩa của tư tưởng “thực học — thực nghiệp, dạy tốt — học tốt”
Thực học nhấn mạnh năng lực tự học, tính ứng dụng của kiến thức, giúp người học không chỉ hiểu lý thuyết mà còn có thể vận dụng vào thực tiễn; Đây là một yêu cầu tất yếu để xây dựng nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng. Thực nghiệp thúc đẩy người học biến kiến thức thành sản phẩm lao động, kỹ năng nghề nghiệp và giá trị sáng tạo.
Dạy tốt – học tốt là quá trình tương hỗ: giáo viên cần nâng cao năng lực sư phạm, đổi mới phương pháp, tạo môi trường thực học; học sinh cần phát triển năng lực tự học, tư duy phản biện, kỹ năng mềm. Sự gắn kết giữa dạy và học đảm bảo chất lượng giáo dục thực chất, chứ không chỉ chạy đua về điểm số, kết quả thi cử.
2. Tiếp cận nội dung thực học, thực nghiệp, dạy tốt và học tốt
Về khái niệm thực học
Tiến sĩ Thân Nhân Trung lả danh nhân lịch sử, văn hóa xuất sắc của dân tộc Việt Nam ở thế kỉ XV đã từng viết: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
Sự phát triển của xã hôi, của đất nước trước kia, hiện nay và sau này một phần quan trọng phụ thuộc vào những nhân tài của đất nước. Tuy nhiên, để trở thành người hiền tài (vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng vừa chuyên) trước hết, mỗi người cần phải học tập siêng năng, học tập thật chăm chỉ và biết “thực học” ở trong sách vở cũng như trong cuộc sống. Thực học là việc mỗi người học tập, nghiên cứu kiến thức lí thuyết trong sách vở rồi biết áp dụng những kiến thức lí thuyết đó vào cuộc sống, giải quyết bài toán của thực tiễn, rút ra bài học bổ ích cho bản thân.
Đồng thời, thực học còn là quá trình chúng ta học hỏi những điều hay lẽ phải, những điều mới từ cuộc sống và con người quanh ta không phụ thuộc vào sách vở. Thực học có vai trò quan trọng đối với mỗi người. Thực học là mục tiêu và cũng là phương tiện đối với mỗi người trong quá trình học tập. Người nào chăm chỉ thực học có thể sẽ nhanh chóng hoàn thiện bản thân mình và sớm sẽ có được thành công trong cuộc sống. Thực học giúp mỗi người chủ động trong cuộc sống bản thân, sống và làm việc, học tập có kế hoạch, mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Từ đó, mọi công việc trở nên thuận lợi, tốt đẹp hơn. Người có ý thức thực học sẽ luôn hiểu thứ mình cần là kiến thức thiết thực và sự áp dụng của nó trong cuộc sống. Vì thế họ sẽ luôn luôn tự giác học, tránh tình trạng học đối phó, học qua loa và học hình thức, chiếu lệ.
Việc thực học nâng cao ý thức của con người, giúp chúng ta biết quan sát mọi thứ xung quanh, có cách nhìn, cách cảm đúng đắn về cuộc sống này; đồng thời giúp ta rèn luyện được những đức tính tốt đẹp khác như: tự giác, kiên trì,… Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người sống thụ động, dựa dẫm, ỷ lại vào người khác, không có định hướng cho cuộc sống của mình. Lại có những người không chịu khó học tập, mài giũa, rèn luyện bản thân,.. Với những người trẻ, người học sinh, chủ nhân tương lai của đất nước, nhiệm vụ đâu tiên và tiên quyết nhất của họ chính là nỗ lực học tập hết mình, học trong sách vở, trên lớp, học bạn bè, thầy cô, bố mẹ, mọi người… học những điều hay ý đẹp để hoàn thiện mình. Việc học bao đời nay vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với cá nhân mỗi người nói riêng và đất nước nói chung. Chỉ có nỗ lực trong học tập ngay từ hôm nay mới có thể gây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh hơn ở tương lai mai sau.
Quan niệm của người Việt Nam “Sống - học tập - làm việc là chuỗi không dứt trong đời người”. Trong chuỗi cuộc sống này thì học tập được đề cao với ý nghĩa quan trọng gần như quyết định tương lai, số phận của đời nguời. Do vậy phụ huynh luôn mong muốn con em mình được học ở những trường có danh tiếng, được học với những thầy cô dạy giỏi mà quên tìm hiểu xem con em mình có khả năng ưu thế là gì, xu hướng phát triển ngành nghề gì là phù hợp,... Chính từ sự không chính xác ấy sẽ dẫn đến hướng học tập lệch lạc và có khi mất cả tuổi trẻ để hiểu và tìm được con đường đúng đắn cho con em mình.
Về khái niệm thực nghiệp
Nói thực nghiệp tức là đề cập một công việc, nghề nghiệp thực sự, là việc thực hành, vận dụng kiến thức vào giải quyết (làm) một công việc cụ thể, có ích, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội. Bản chất của thực nghiệp một công việc cụ thể là hàm ý tính thực tiễn, có ích của công việc đó, nghĩa là công việc, nghề nghiệp không viển vông, xa rời thực tiễn.
Trong lịch sử giáo dục của chúng ta, thực hiện quan điểm, triết lý “thực học, thực nghiệp” đã được tiền nhân hết sức chú ý, coi trọng. Thực học, thực nghiệp gắn bó chặt chẽ, biện chứng với nhau.
Thực học, thực nghiệp là chú trọng chất lượng đào tạo, giáo dục gắn với thực tiễn, nhu cầu lao động, lấy hiệu quả, chất lượng công việc của người học làm thước đo giá trị.
Thực học – thực nghiệp sẽ không có chuyện đào tạo lí thuyết kinh viện, viễn vông, xa rời thực tiễn; sẽ không có lãng phí trong giáo dục – đào tạo, cấp bằng xong rồi… thất nghiệp.
Thực học - thực nghiệp sẽ bảo đảm cạnh tranh công bằng - bình đẳng trong tuyển dụng, đề bạt người lao động, cán bộ.
Triết lý, quan điểm này cần được thể chế hóa bằng các quy định, quy tắc tuyển dụng, đề bạt nhân sự từ địa phương đến cơ sở.
Bằng cấp chả có nghĩa lý gì nếu không có năng lực, làm việc không hiệu quả.
Trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, các ứng viên sẽ được xem xét trên cơ sở năng lực, hiệu quả công tác, kết quả sát hạch, bảo vệ đề án, thay vì tuyển trên xuống theo bằng cấp, điểm số.
Không bảo đảm thực hiện triết lý thực học - thực nghiệp, thì chúng ta sẽ bị “ngộp thở”, rối bời trong “biển” bằng cấp, chứng chỉ, và vô cùng lãng phí trong đào tạo.
Về khái niệm dạy tốt,học tốt
Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” được triển khai hàng năm trong ngành giáo dục, là nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường, là khâu cốt lõi nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo. Phong trào thi đua hai tốt đã phát triển, khơi dậy tinh thần học tập, tạo môi trường thuận lợi để thầy trò rèn luyện phấn đấu trở thành giáo viên giỏi, học sinh giỏi đúng như bức thư Bác Hồ gửi ngành giáo dục (15-10-1968) “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt học tốt”.
Trải qua hơn 50 năm thực hiện, phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” đã trở thành phong trào thi đua lan rộng và thấm sâu vào từng cán bộ, nhà giáo trong toàn ngành. Đây là phong trào thi đua thiết thực nhất gắn với nhiệm vụ trọng tâm của từng nhà trường, của từng thầy, cô giáo và các em học sinh nhằm cụ thể hóa mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Thi đua dạy tốt, học tốt của thầy và trò trong nhà trường hiện nay còn gắn với những nội dung thiết thực như “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”…. Điều đó đã góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.
Từ thực tiễn trong phong trào thi đua “Dạy tốt - học tốt” đã xuất hiện nhiều tấm gương nhà giáo tận tụy, tâm huyết với nghề, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đam mê chuyên môn, giúp đỡ, dìu dắt học sinh tiến bộ và đạt nhiều thành tích xuất sắc qua các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia, tạo niềm tin yêu, hình ảnh tốt đẹp không chỉ với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn tạo niềm tin với nhân dân và xã hội.
Có thể khẳng định tư tưởng, quan điểm “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” là triết lí giáo dục, đào tạo có giá trị vô cùng sâu sắc đối với công cuộc xây dựng, phát triển nền giáo dục mới ở nước ta.
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ 2020 đến giũa năm 2022, đại dịch Covid 19 đã hoành hành khắp nơi trên thế giới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng. Mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục gặp vô vàn khó khăn gian khổ. Với phương châm chống dịch như chống giặc, một loại giặc chưa có tiền lệ trong lịch sử, vừa chống dich quyết liệt, vừa xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo sang suốt của Đảng đã từng bước chiến thắng đại dịch Covid. Trong bối cảnh đại dịch Covid 19 hoành hành,… đã ảnh hưởng, tác động vô cùng lớn và sâu sắc đến việc dạy học, giáo dục của Thầy và Trò. Mặc dù vậy, với cách làm giáo dục sáng tạo, với nhận thức sâu sắc về triết lí giáo dục “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trên mặt trận giáo dục đào tạo chúng ta đã hoàn thành tốt được nhiệm vụ đặt ra.
Chỉ đạo việc việc dạy học trực tuyến một cách linh hoạt, khoa học, sáng tạo đảm bảo “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh của đại dịch Covid 19 từ 2020 đến giũa năm 2022 đã thu được những kết quả khả quan và rút ra được những bài học bổ ích, quý giá. Cán bộ quản lí giáo dục, giaó viên nhận thức rất rõ hoạt động dạy học trực tuyến nhằm hỗ trợ hoặc thay thế dạy học trực tiếp tại cơ sở giáo dục phổ thông, thực hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học hoặc chủ đề trong chương trình giáo dục phổ thông để hỗ trợ hoặc thay thế dạy học trực tiếp bài học hoặc chủ đề đó tại cơ sở giáo dục phổ thông. Mô hình dạy học mới được áp dụng tiêu biểu là “đào tạo trực tuyến” là một trong những giải pháp tối ưu có khả năng đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong học tập, giảng dạy và thuận lợi trong đào tạo nhiều cấp học và những mặt tích cực mà phương pháp này mang lại trong quá trình giảng dạy và học tập.
- Một số tồn tại, hạn chế, bất cập khi thực hiện
- Nhiều nghiên cứu khẳng định, trong quá trình dạy học, giáo dục những năm
vừa qua, thực tế cho thấy, việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, giáo dục về truyền thống văn hoá, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân cho học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp. Giáo dục phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến "dạy chữ", chưa quan tâm đúng mức đến "dạy người", kỹ năng sống và "dạy nghề" cho thanh thiếu niên. Giảng dạy vẫn nặng lý thuyết, thiên về “chạy chương trình”, ít thời gian thực hành và ứng dụng. Chất lượng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Thiếu liên kết giữa trường học và thị trường lao động; sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Nhà trường chưa quan tâm đúng mức hoặc chưa có biện pháp hữu hiệu giáo dục trách nhiệm người công dân, người lao động chân chính cho học sinh, sinh viên. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học chậm đổi mới; Giáo viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp, thời lượng còn ít, áp lực về thi cử khiến đổi mới hình thức dạy học chậm,... Các hoạt động học ngoài giờ, trải nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu khoa học nặng về phong trào, thiếu kế hoạch, thiếu đầu tư dài hạn. Cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp.
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và những khó khăn của đất nước đã ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp phát triển giáo dục.
Quản lý giáo dục yếu kém cả trong xây dựng thể chế, chỉ đạo điều hành, kiểm tra giám sát và xử lí vi phạm. Cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và các cơ quan chủ quản, giữa quản lý giáo dục và đào tạo theo ngành và theo lãnh thổ. Việc tổ chức khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục còn nhiều bất cập và để xảy ra nhiều sai phạm.
- Người thầy đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo, nhưng thực tế khi quy mô học sinh, sinh viên tăng nhanh đã gây nên sự bất cập giữa quy mô phát triển giáo dục với đội ngũ giáo viên, nhất là ở bậc mầm non và bậc đại học.
Có hiện tượng vừa thiếu, vừa thừa giáo viên do không có sự đồng bộ về loại hình. Rất nhiều địa phương có tổng biên chế giáo viên đủ, thậm chí thừa, nhưng lại thiếu những loại hình giáo viên như ngoại ngữ, âm nhạc, kỹ thuật. Sự hẫng hụt về giáo viên trình độ cao ở các trường đại học ngày càng gia tăng, tuổi trung bình của giáo viên cao.
Phương pháp giảng dạy chưa được cải tiến, phổ biến vẫn là lối dạy thầy truyền đạt, trò tiếp thu thụ động. Điều đó diễn ra không chỉ ở giáo dục phổ thông mà ngay cả ở đại học và sau đại học.
- Cơ sở vật chất trường lớp còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nội dung giáo dục còn thiếu thiết thực.
4 . Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Đại hội XIII của Đảng đã định hướng phát triển giáo dục Việt Nam cho thời kỳ tới, trong đó có một số điểm nổi bật như: thay vì chỉ nhấn mạnh vào “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo” như trước đây, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đề cập trực tiếp việc “phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế”. Phương hướng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” được xác định theo hướng mới: “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”. Không chỉ vậy, giáo dục Việt Nam còn hướng đến sự phát triển đột phá và nâng cao về chất: “Có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạm trở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới”…
Để chất lượng giáo dục đào tạo được nâng cao về chất và lượng trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó về khâu quản lí giáo dục cần tập trung thực thi một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục dào tạo, khoa học và công nghệ. Tuyên truyền về giáo dục có tác dụng tạo chuyển biến nhận thức và sự đồng thuận cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục. Đó là tuyên truyền về nội dung của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng như các chủ trương, chính sách mới về giáo dục đào tạo; đổi mới chương trình, sách giáo khoa; từ giáo dục mầm non đến phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề…ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục và đào tạo.
Thứ hai: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp. Đặc biệt cấp quản lý, phải xây dựng được chiến lược và tầm nhìn chương trình hành động cụ thể của ngành học, cấp học từ trên xuống dưới theo một logic khoa học. Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả này cần khắc phục những rào cản, bất cập hiện nay (biên chế, tiền lương, phụ cấp…) để giáo viên yên tâm công tác, thực sự say sưa, tâm huyết với nghề. Giáo viên cần đảm bảo chuẩn theo quy định và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ theo hướng đi tắt đón đầu.
Thứ ba: Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Cán bộ là gốc của mọi việc, nên các cấp chính quyền cần có chiến lược xây dựng được các nhà quản lý giáo dục giỏi làm sao đáp ứng được sự kỳ vọng của đất nước ta trong hiện tại và tương lai. Quản lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự kỷ cương, nề nếp. Cán bộ quản lý phải là người vừa hồng vừa chuyên để làm thế nào tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả, sáng tạo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, quy định, các chương trình, kế hoạch của cấp trên cũng như có những mô hình hay, phương pháp mới phù hợp với xu thế và tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị. Thiết thực hơn nữa với cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo cần hình thành tư tưởng chính trị quản lý lấy lợi ích quốc gia – dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân.
Thứ tư: Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là vô cùng quan trọng. Học sinh giũ vai trò trung tâm của quá trình dạy học, tất cả phải tập trung vào học sinh. Phát triển kỹ năng tự học và tư duy phản biện cho học sinh. Học sinh cần học theo dự án, đọc mở rộng, tìm tòi vấn đề, trình bày sản phẩm… Thầy cô hướng dẫn nhưng học sinh chủ động là chính. Đồng thời, học sinh tích cực, chủ động trải nghiệm, khám phá. Tham gia trải nghiệm thực tế, chương trình chính khóa/lế Tết/kỳ hè, làm đồ án, sáng tạo khoa học, khởi nghiệp – kinh doanh, công việc thực tập… Giúp học sinh từng bước tự nhìn nhận khả năng thực nghiệp, chọn nghề phù hợp. Bên cạnh đó, đối với học sinh, phải xây dựng thái độ học tích cực và kỹ năng mềm cho các em. Đó là kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, quản lý thời gian, giải quyết vấn đề, thích nghi… là yếu tố quan trọng trong môi trường thực học – thực nghiệp.
Thứ năm: Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo. Cần tập trung rà soát lại và từ đó nghiên cứu quy định cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho giáo dục và đào tạo – với vị trí, vai trò là quốc sách hàng đầu; tăng cường xã hội hóa giáo dục, nâng cao hiệu quả, đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục và đào tạo. Cùng với đó, tăng cường đẩy mạnh thu hút các nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào giáo dục, đẩy mạnh tự chủ giáo dục đại học theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, trong đó khuyến khích thành lập các trường tư thục đa cấp chất lượng cao.
Thứ sáu: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục đào tạo. Tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra trong giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29 – Động lực thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam
Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ vai trò then chốt của công tác thanh tra, kiểm tra trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục. Trong bối cảnh giáo dục nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, dân chủ, chất lượng và hội nhập, việc tăng cường thanh tra, kiểm tra không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là công cụ quan trọng nhằm đảm bảo kỷ cương, minh bạch và công bằng trong toàn bộ quá trình giáo dục – đào tạo.
Trước hết, thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, gian lận trong thi cử, tuyển sinh, quản lý tài chính và các hoạt động giáo dục khác. Qua đó, góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, cũng như học sinh, sinh viên. Đồng thời, hoạt động này còn giúp điều chỉnh chính sách, cải tiến quản lý, từ thực tiễn giám sát để xây dựng chiến lược giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Thực hiện Nghị quyết 29, ngành giáo dục đã từng bước đổi mới phương thức thanh tra theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin. Các đoàn thanh tra tập trung vào việc đánh giá chất lượng thực tế, lắng nghe ý kiến từ cơ sở, từ đó đưa ra khuyến nghị sát thực và giải pháp khả thi. Việc phối hợp giữa các cấp quản lý trong thanh tra, kiểm tra cũng được nâng cao, bảo đảm tính liên thông và hiệu lực toàn diện.
Tuy nhiên, để công tác thanh tra – kiểm tra thực sự hiệu quả, cần tiếp tục bồi dưỡng năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thanh tra; đồng thời hoàn thiện cơ chế pháp lý, chế tài xử lý vi phạm. Việc huy động sự giám sát của toàn xã hội, đặc biệt là vai trò của phụ huynh, học sinh, báo chí cũng là một phần quan trọng để tạo nên sức mạnh cộng hưởng cho công tác kiểm tra, giám sát giáo dục.
Tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra theo tinh thần Nghị quyết 29 không chỉ là một giải pháp kỹ thuật trong quản lý giáo dục, mà còn là biểu hiện của quyết tâm chính trị nhằm xây dựng một nền giáo dục dân chủ, công bằng, minh bạch và phát triển bền vững. Đây là bước đi tất yếu để đảm bảo chất lượng giáo dục thực chất, phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác thanh, kiểm tra. Giúp giữ vững và duy trì kỷ cương, trật tự, nề nếp, sự ổn định trong giáo dục, đồng thời phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục như gian lận thi cử, dạy thêm học thêm tràn lan, vi phạm đạo đức lối sống trong đội ngũ giáo viên cũng như học sinh…Bên cạnh đó cũng cần kịp thời làm tốt công tác thi đua khen thưởng tạo động lực tốt cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên cũng như học sinh tích cực thi đua quản lý tốt, dạy tốt, học tốt.
Kết luận
Tư tưởng, quan điểm , triết lí giáo dục “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” nêu trong Nghị quyết 29/NQTW là một bước phát triển mới của nhận thức lí luận và tư duy giáo dục, tư duy làm giáo dục. Xuyên suốt của quá trình giáo dục và dạy học phải lấy “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” làm cốt lõi, làm kim chỉ nam. Không theo phương châm đó hoặc thực hiện phương châm đó không toàn diện, không đúng bản chất thì mục tiếu giáo dục và dạy học sẽ hạn chế. Những năm vừa qua, trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục & đào tạo, việc dạy học & giáo dục với triết lí “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt”, với khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yếu” lấy “học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học và giáo dục” sự nghiệp giáo dục đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng mới chỉ là bước đầu. Còn nhiều việc phải làm để thực hiện tốt hơn nữa, sâu sắc hơn nữa triết lí giáo dục “Thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” như Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 đã đề ra.
Tư tưởng “thực học — thực nghiệp, dạy tốt — học tốt” là giải pháp then chốt để giáo dục Việt Nam đổi mới, đáp ứng yêu cầu thời đại. Nó chỉ thăng hoa khi được triển khai đồng bộ: từ chính sách chương trình, nâng cao năng lực giảng dạy, đến kiến tạo môi trường học tập phát huy tính chủ động của học sinh. Cần sự chung tay của Nhà nước, nhà trường, giáo viên, phụ huynh và xã hội để hình thành một hệ sinh thái giáo dục bền vững - sáng tạo - hiệu quả, giúp thế hệ trẻ thực sự “học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình”.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.