1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

CHUYỂN ĐỔI SỐ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRÊN HÀNH TRÌNH ĐI VÀO KỶ NGUYÊN SỐ (Một ý tưởng và cũng là một kiến nghị với Bộ GD và ĐT)

06:00 | 08/04/2026
aA

 

GS.TS Phạm Tất Dong

 

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo nghề

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (1/2026) đặt ra nhiều yêu cầu quan trọng đối với công tác đào tạo nghề, hướng đến xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, đẩy mạnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Có những yêu cầu sau:

- Đột phá chất lượng đào tạo và gắn kết thị trường.

Đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực của thị trường lao động theo xu hướng phục vụ nền sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng. Gắn kết đào tạo nghề với nghiên cứu khoa học và công nghệ, bám sát xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thế giới.

- Phát triển nhân lực chất lượng cao và trọng dụng tài năng xuất phát từ đào tạo nghề, đặc biệt là nghề trong lĩnh vực trọng điểm.

Tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, xuất khẩu. Đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực có năng lực tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.

- Đổi mới triệt để nội dung và phương pháp đào tạo nghề.

Tăng cường kiến thức, kỹ năng nghề hiện đại. Nâng cao năng lực số. Phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo. Tăng cường trải nghiệm.

- Hội nhập quốc tế và hiện đại hóa.

Quốc tế hóa và hiện đại hóa các cơ sở đào tạo nghề. Đẩy mạnh dạy ngoại ngữ, coi tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong đào tạo nghề.

- Nâng cao năng lực và đạo đức của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp.

Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp có đủ tài năng và đức độ để đưa việc đào tạo nghề đạt chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục nghề.

2. Những vấn đề mà chủ trương đổi mới giáo dục nghề nghiệp phải tính đến trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIV (2026 - 2031)

Có những vấn đề sau đây làm bối cảnh cho sự đổi mới giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nhiệm kỳ (2026 - 2031).

2.1. Chuyển giáo dục nghề nghiệp từ sự quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Việc chuyển giao quyền lực quản lý này không đơn thuần là việc bộ máy đào tạo nghề được đặt dưới sự điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo với toàn bộ cơ chế vận hành của nó đã từng tồn tại khi còn thuộc về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hơn nữa, nó không là một dấu cộng đơn giản trong bộ máy điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Minh họa một cách thô thiển, việc chuyển đổi giáo dục nghề nghiệp sang Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý không chỉ đơn thuần là một “kĩ thuật ghép cành” (Grafting) trong nông nghiệp thường làm: Cành được ghép vẫn song song tồn tại với cây gốc (Rootstock hay Grafting stock). Nói như vậy có nghĩa là, giáo dục nghề nghiệp sẽ phải là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống giáo dục quốc dân, có mối quan hệ chặt chẽ, liên thông, hỗ trợ... với các lĩnh vực khác, nhất là với giáo dục đại học.

40 năm trước, năm 1986, UNESCO đã công bố một quan niệm về giáo dục mà giờ đây nó đang được thể hiện:

“Xóa bỏ hàng rào giả tạo và lỗi thời giữa các ngành giáo dục, giữa các cấp, bậc đại học, giữa giáo dục chính quy với không chính quy; Xóa bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa giáo dục phổ thông, giáo dục khoa học kĩ thuật và chuyên nghiệp”.

Trước đây, tôi coi tuyên bố trên là một tiên đoán; hiện nay, đối với tôi, đó là một nguyên tắc (nếu không nói là một triết lý trong đào tạo con người).

2.2. Trong xã hội số, giáo dục nghề nghiệp tập trung đào tạo những lao động tri thức (Knowledge worker).

Mô hình đào tạo của giáo dục nghề nghiệp trong xã hội số đã khác xa với mô hình đào tạo thợ trong xã hội công nghiệp. Nếu như trong xã hội công nghiệp, người thợ/công nhân làm việc với máy sản xuất độc lập hoặc những lao động chân tay thì trong hệ thống sản xuất số, họ làm việc theo hệ thống tích hợp các công nghệ số với nhiều loại hình thợ/công nhân khác nhau.

Dưới đây là bảng nói lên sự phân biệt này:

 

Xã hội công nghiệp

Xã hội số

Mục tiêu đào tạo

Thợ/công nhân đứng máy độc lập hoặc lao động kỹ thuật đơn giản

Thợ/công nhân trong hệ thống sản xuất tích hợp số.

Mô hình đào tạo

- Thợ/công nhân đứng máy (workers)

- Lao động với kỹ thuật đơn giản (Laborers)

- Thợ/công nhân vận hành (Opterators).

- Kỹ thuật viên (Technican).

- Thợ/công nhân tri thức (Knowledge workers)

- Người lao động trên nền tảng (Platform workers)

Môi trường lao động

Gara nhỏ, xưởng sản xuất truyền thống

Nhà máy thông minh, dây chuyền tự động thông minh

Thiết bị sản xuất

Máy công cụ riêng lẻ, thiết bị cầm tay

Robot, dây chuyền đồng bộ IoT

Khắc phục sự cố

Kinh nghiệm sửa chữa trực tiếp

Chẩn đoán qua phần mềm, tư duy hệ thống

2.3. Cấu trúc nhân sự của nhân lực chất lượng cao trong tổ chức (đơn vị sản xuất, kinh doanh).

Trong đơn vị sản xuất chuyển đổi số, nhân sự của một tập thể (nhóm) lao động có nhiều loại hình khác nhau, bao gồm:

a. Nhóm chuyên gia công nghệ số.

- Nhà phát triển phần mềm (Software Developer).

- Chuyên gia an ninh mạng (Cybersecurity Specialist, Cybersecurity expert).

- Kỹ sư đám mây (Cloud Engineer, Cloud Computing Engineer).

- Nhà khoa học dữ liệu (Data Scientist).

- Chuyên gia trí tuệ nhân tạo và máy học (AI và Learning Machine expert).

b. Nhóm hỗ trợ chuyển đổi số.

- Chuyên gia xây dựng lộ trình, chuyển đổi số của doanh nghiệp (Digital Transformation Roadmap Specialist).

- Cán bộ quản lý dự án công nghệ (Technology Project Manager).

- Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (User Experience Disigner - UX Disigner/UI Disigner).

c. Nhóm vận hành và duy trì hệ thống.

- Kỹ sư hệ thống (System Engineer).

- Chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật (Technical Support Specialist/Engineer).

d. Những công nhân tri thức.

Các loại thợ (công nhân kỹ thuật) trực tiếp làm ra sản phẩm trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau trên các vị trí việc làm khác nhau (Knowledge workers).

e. Cán bộ quản lý nguồn nhân lực.

Cán bộ quản lý nguồn nhân lực có nhiều loại với những chức năng khác nhau như quản lý về chiến lược (HR Director/Manager), hành chính (HR Admin), tuyển dụng (Recruiter), đào tạo (Học tập và phát triển - Learning & Development), chuyên viên tiền lương và phúc lợi.

Như vậy, khi nói đến nhân lực là phải hiểu cấu trúc nhân sự của tập hợp những người lao động trong một cơ sở sản xuất hay một tổ chức công tác. Chất lượng cao của nhân lực thể hiện ở sự tổng hòa các năng lực của tập hợp này trước một công việc, một sự nghiệp nhất định.

Với cách hiểu về mục tiêu đào tạo của hệ thống dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã chuyển về cho Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, hệ thống này chỉ có chức năng đào tạo công nhân và nhân viên kĩ thuật là chính (hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề), với việc đào tạo công nhân có tay nghề bậc 5 là cao nhất. Do thiếu một số kiến thức phổ thông cần thiết, những người tốt nghiệp trung cấp nghề không có cơ hội theo học đại học.

Những người tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề sẽ đạt tay nghề bậc 5, nếu có nhu cầu liên thông học lên đại học thì họ sẽ có đủ điều kiện. Song, hệ trường cao đẳng nghề lại không đủ năng lực đào tạo rất nhiều nghề mà trong mục 3.I đã đề cập. Với tình trạng đó yêu cầu phổ cập giáo dục bậc trung học cũng như yêu cầu đào tạo nghề hiện đại mà chỉ có thể thực hiện ở trường đại học sẽ mặc nhiên không được phụ huynh và học sinh đón nhận cả trường trung cấp nghề lẫn cao đẳng nghề hiện nay.

3. Những yêu cầu đặt ra với giáo dục nghề nghiệp trong tham gia cách mạng công nghiệp 4.0 và sứ mệnh trong kỷ duyên số

Đi vào kỷ nguyên số, tiếp cận và tham gia vào cách mạng công nghiệp 4.0. Những yêu cầu mà nền kinh tế số đặt ra cho công việc đào tạo nghề gồm:

3.1. Đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao

- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi rất nhiều về cơ cấu lao động. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi rất nhiều về kỹ năng, đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi này. Nhiều nghề mới xuất hiện, đòi hỏi người lao động học hỏi thêm để có năng lực chuyển đổi nghề, tránh rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp.

- Xây dựng lại chương trình đào tạo nghề, đổi mới phương pháp đào tạo, hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao để làm việc trong hệ thống sản xuất sử dụng các công nghệ như Trí tuệ nhân tạo, Dữ liệu lớn, Chuỗi khối, điện toán đám mây, In 3D, robot nghệ thông minh...

3.2. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ số

- Trong hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ cần nhanh chóng nâng cao trình độ về công nghệ số để bảo đảm quy trình đào tạo ứng dụng các công nghệ số cần thiết.

- Việc ứng dụng công nghệ số trong đào tạo nghề phải nhanh chóng giúp người học làm quen với hệ thống sản xuất tự động và dây chuyền sản xuất thông minh.

- Giảng dạy về công nghệ số phải được coi là nền tảng để giúp học viên có thêm những kỹ năng cần cho việc chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng trong sản xuất trên mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân.

3.3. Nâng cao cao năng lực cạnh tranh và thích ứng

- Sự cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và thế giới phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hiện đại trong đó. Sự kết tinh tri thức mới trong sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào những công nghệ cao.

- Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, việc đào tạo nghề nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Người lao động phải được rèn luyện thường xuyên để có được tư duy sáng tạo nhạy bén và những kỹ năng số luôn được đổi mới.

- Cơ sở đào tạo nghề phải tổ chức theo mô hình “Nhà trường - doanh nghiệp” (Mô hình đào tạo kép), chú trọng năng lực thực hành thông qua các hình thức đào tạo trải nghiệm thay vì đào tạo chạy theo lý thuyết.

- Cùng với việc chăm lo cho người học những kỹ năng về chuyên môn -nghiệp vụ (kỹ năng cứng), phải có chương trình đào tạo những kỹ năng mềm như kỹ năng xanh, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác.

3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế

Để hàng hóa Việt Nam vươn nhanh ra thế giới bằng năng lực cạnh tranh, cần thấy rằng, đang có nhiều cơ hội cho kinh tế nước phát triển nhờ các Hiệp định Thương mại tự do, qua đó có thể thu hút dòng vốn đầu tư từ bên ngoài và tham gia sân chơi sâu hơn vào mạng lưới sản xuất khu vực. Chính vì vậy, việc đào tạo nghề cần phải có sự giúp đỡ của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự hợp tác quốc tế có thể mang lại nhiều điều cần thiết như kinh nghiệm đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề, xu thế phát triển nghề và việc xây dựng nhân lực chất lượng cao, trao đổi cán bộ giảng dạy và đào tạo nghề, tranh thủ vốn đầu tư để xây dựng các cơ sở dạy nghề hiện đại.

4. Kiến nghị về một số giải pháp tổ chức lại giáo dục nghề nghiệp

Với những vấn đề chúng tôi đặt ra trên đây, cần có những giải pháp cụ thể để hiện thực hóa các ý tưởng đó. Xin đề xuất mấy giải pháp:

4.1 Xếp sắp lại cơ quan quản lý giáo dục nghề nghiệp hiện tại ở Bộ Giáo dục và Đào tạo

Sau khi chức năng giáo dục nghề nghiệp từ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chuyển sang Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên được thành lập. Với cách hiểu của tôi, đây là mảnh ghép 2 tổ chức quản lý rất khác nhau về chức năng và nhiệm vụ, nói nôm na là “đồng sàng dị mộng”.

Giáo dục nghề nghiệp (Vocational Education) có sứ mệnh đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, tay nghề cao cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Hệ thống này giúp người học phát triển toàn diện về đạo đức, kỹ năng nghề, lối sống hiện đại lành mạnh, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế số khi quốc gia đi vào chương trình chuyển đổi số và phát triển trong kỷ nguyên số.

Giáo dục thường xuyên (Continuing Education) là chương trình học tập dành cho người lớn nhằm cập nhật kỹ năng, kiến thức sau giáo dục chính quy. Theo tôi hiểu, lâu nay ta hiểu không chính xác về khái niệm “Giáo dục thường xuyên”, coi nó là một ngành học, thực chất nó là chính sách quốc gia về giáo dục, nhằm bảo đảm con người được học tập thường xuyên liên tục từ lọt lòng đến khi qua đời. Đáng ra chúng ta phải sửa thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên” bằng thuật ngữ “Giáo dục người lớn” (Adult Education).

Giáo dục người lớn là một ngành chuyên môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm quản lý. Nhiệm vụ này không thể chia sẻ cho các bộ khác, càng không phải là nhiệm vụ của một tổ chức xã hội.

Giáo dục người lớn có sứ mệnh tạo cơ hội học tập suốt đời, giúp người lớn cập nhật kiến thức, kỹ năng mới để nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng việc làm (trong nghề), giúp cho người lớn thích ứng ứng với những thay đổi của công nghệ,tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi nghề nghiệp.

(Giáo dục người lớn tạo nhân lực tại chỗ chất lượng cao, còn giáo dục thế hệ trẻ trong hệ thống đào tạo K.12 và Đại học thì tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước).

Với cách hiểu của tôi, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo giải quyết sự bất hợp lý trên đây như sau:

- Đưa giáo dục nghề nghiệp vào sự quản lý của Vụ Giáo dục đại học (vì giáo dục đại học và giáo dục nghề đều là giáo dục chuyên nghiệp) có thể đặt tên lại là: “Vụ giáo dục đại học và chuyên nghiệp”.

- Giữ nguyên Vụ giáo dục thường xuyên như cũ về phương diện tổ chức, đặt tên là “Vụ giáo dục người lớn”.

4.2. Hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay cần được xây dựng theo một cấu trúc hợp lý

Hệ giáo dục học theo hình thức chính quy dành cho thế hệ trẻ (bao gồm cả thanh niên học nghề) và Hệ giáo dục học theo hình thức không chính quy dành cho người lớn.

Trong Hệ thống giáo dục chính quy có giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông (gồm tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông). Không nên ghép cấu trúc sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề vào cấu trúc giáo dục phổ thông. Việc ghép như hiện nay sẽ không được dân hưởng ứng và hiệu quả là nó sẽ không phát triển. Lý do cơ bản ở đây là nhà nước không chủ trương phổ cập giáo dục trung cấp nghề, cho nên nếu học xong trung cấp nghề rồi mới học tiếp để phổ cập giáo dục phổ thông thì sẽ giống như phải thực hiện một “thao tác thừa” rất không hợp lý.

Tôi cho rằng, trong hệ giáo dục trung học phổ thông nên có 2 loại trường: Trường Trung học phổ thông cơ bản và trường Trung học phổ thông kỹ thuật. Loại hình thứ nhất hướng học sinh tốt nghiệp theo hệ đại học nghiên cứu; Loại hình thứ hai dành cho học sinh bộc lộ tài năng về kỹ thuật và công nghệ, có triển vọng thành những chuyên gia, những tài năng về phát triển công nghệ và kỹ thuật.

Nếu thực hiện cách xây dựng hệ trung học phổ thông như vậy thì với học sinh trung học phổ thông, ta sẽ không “phân luồng” (một cách gần như hoàn toàn thất bại từ trước đến nay) mà tiến hành hướng học (tiếng Anh: Educational guidance; tiếng Pháp: Orientation scolaire), hướng dẫn học sinh học xong trung học cơ sở chọn trường trung học phổ thông kỹ thuật nếu có năng lực trội về khoa học kỹ thuật hoặc chọn trường Trung học phổ thông cơ bản nếu giỏi nhiều môn khoa học xã hội, nhân văn. Đối với học sinh trung học phổ thông, nhà trường sẽ hướng nghiệp, hướng dẫn các em chọn trường đại học.

4.3. Tiến hành việc học tập suốt đời trong đội ngũ lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất... theo tinh thần “Bình dân học vụ số”

Hơn ai hết, những lao động kỹ thuật phải cập nhật kịp thời (By day learning) những kiến thức và kỹ năng mới, bởi với sự tác động của trí tuệ nhân tạo và nhiều công nghệ mới khác, vòng đời của công nghệ sản xuất sẽ rút ngắn nhanh chóng. Không học nhanh và kịp thời sẽ bị gạt ra khỏi hệ thống sản xuất hiện đại.

Các tổ chức sản xuất phải đưa học tập thường xuyên vào đơn vị của mình, tạo nên vốn tri thức của tổ chức và phải coi xây dựng các tổ chức học tập (Learning Organizations) như một yêu cầu bắt buộc trong doanh nghiệp và các tập đoàn sản xuất.

4.4. Thúc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo nghề với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Công việc này sẽ mang lại những lợi ích lớn sau đây:

a. Nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế thông qua việc tiếp cận các chương trình, giáo trình và nguồn học liệu phong phú và bổ ích. Nên ưu tiên thiết lập quan hệ hợp tác với Đức, Nhật, Singapore... những quốc gia có nhiều kinh nghiệm tiên tiến về lĩnh vực này.

b. Thông qua hợp tác quốc tế, nhanh chóng nâng cao trình độ tay nghề của giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.

c. Sinh viên học nghề sẽ có nhiều cơ hội rèn luyện kỹ năng nghề, nâng cao trình độ ngoại ngữ, có nhiều điều kiện để rèn luyện về năng lực và phẩm chất thành “Công dân toàn cầu”.

d. Thu hút được nhiều dự án quốc tế để đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại từ các nguồn tài chính bên ngoài.

4.5. Xây dựng lại Thể chế giáo dục nghề nghiệp

Xây dựng lại Thể chế giáo dục nghề nghiệp (Vocational Training Institution) theo đường lối giáo dục của Đảng đã được ghi vào Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị số 71-NQ/TW (22/8/2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Trong Nghị quyết 71-NQ/TW, về mục tiêu phát triển đến năm 2035 có sự khẳng định như sau:

“Hệ thống giáo dục và đào tạo tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông (tôi tự tô đậm mệnh đề này) và tương đương”.

Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết 71-NQ/TW có những ý chỉ đạo cụ thể như sau:

“Phân cấp mạnh quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về chính quyền địa phương”.

“Tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là đào tạo kỹ năng nghề trong những lĩnh vực công nghệ cao”.

“Đầu tư hiện đại cho một số trường cao đẳng chất lượng cao đẳng chuẩn quốc tế”.

Với yêu cầu sắp xếp lại các tổ chức một cách tinh và gọn, căn cứ vào các ý kiến chỉ đạo trên đây chúng tôi đề xuất một cách làm như sau:

- Những trường sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề sẽ giao cho chính quyền địa phương quản lý.

- Một số trường trung cấp nghề (nếu cần) có thể chuyển thành trường trung học phổ thông kỹ thuật để thực hiện chủ trương Phổ cập giáo dục trong Trung học phổ thông. Loại hình trường này hướng học sinh học các trường đại học đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật.

- Những trường cao đẳng nghề được đầu tư để nâng cấp thì tốt nhất là nâng nâng lên thành trường đại học ở địa phương hoặc cho nhập vào trường đại học chuyên ngành ở Trung ương.

- Theo cách này, Bộ Giáo dục không cần có Cục giáo dục nghề nghiệp. Trong trường hợp không có Cục này nữa thì giáo dục thường xuyên trở lại thành vụ như trước đây và gọi là Vụ giáo dục người lớn.

Như thế thì việc sửa đổi Luật giáo dục lại phải tiếp tục.

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).