1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

CHUYỂN ĐỔI SỐ GẮN VỚI NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI THÔNG MINH HIỆN NAY

12:48 | 09/10/2025
aA

 

                                    Trung tá, ThS Vũ Trường Duy, Lớp NCS 2025

                                   Thượng tá, ThS Nguyễn Văn Hoạt, Lớp NCS 2024

                                (Hệ Sau đại học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)

                       Gmail: [email protected]

 

Tóm tắt:

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) trong Quân đội.

Việc xây dựng nhà trường quân đội thông minh không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này, cần đặc biệt coi trọng phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong các nhà trường quân đội. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng là điều kiện tiên quyết, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quá trình chuyển đổi số và xây dựng nhà trường quân đội thông minh. Bài viết tập trung phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chuyển đổi số và nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong các nhà trường quân đội; đồng thời làm rõ yêu cầu, nội dung và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà trường quân đội thông minh trong tình hình mới.

Từ khóa:  Chuyển đổi số, Nhà trường quân đội thông minh, Tổ chức đảng, Năng lực lãnh đạo, Giáo dục và đào tạo trong Quân đội, nhà trường quân đội thông minh.

Nhận bài: 06/10/2025; Biên tập:08/10/2025; Duyệt đăng: 09/10/2025.

  1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số là xu thế khách quan của sự phát triển, đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có GD&ĐT và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong Quân đội, chuyển đổi số không chỉ là điều kiện để hiện đại hóa phương thức huấn luyện, quản lý và điều hành, mà còn là động lực tạo chuyển biến căn bản trong xây dựng nhà trường quân đội theo hướng thông minh, tích hợp công nghệ, chính quy và kỷ luật. Từ đó, hình thành mô hình nhà trường quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại – tiến tới hiện đại hóa toàn diện theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, trong đó xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia...” .

Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, cần phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong các nhà trường quân đội. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng là điều kiện tiên quyết, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng trong quá trình chuyển đổi số và xây dựng nhà trường quân đội thông minh. Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/1/2025 của Quân ủy Trung ương đã nhấn mạnh: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình xây dựng Quân đội hiện đại” .

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình chuyển đổi số, nhiều tổ chức đảng tại các nhà trường quân đội còn lúng túng trong định hướng chiến lược, thiếu chiều sâu trong tổ chức thực hiện, chưa phát huy được vai trò trung tâm lãnh đạo về chính trị - tư tưởng - tổ chức trong toàn bộ tiến trình đổi mới mô hình nhà trường. Sự thiếu gắn kết giữa chủ trương của tổ chức đảng với các hoạt động đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ… đặt ra yêu cầu cần tiếp cận vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng từ góc nhìn mới, biện chứng và có hệ thống.

Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, bài viết tập trung làm rõ nội dung, vai trò và những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong nhà trường quân đội hiện nay; phân tích mối quan hệ giữa nâng cao năng lực lãnh đạo với quá trình chuyển đổi số trong xây dựng nhà trường quân đội thông minh; từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt và hiệu quả trong quá trình hiện đại hóa mô hình nhà trường quân đội trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận

          Chuyển đổi số trong giáo dục và nhà trường quân đội

Chuyển đổi số là quá trình tích hợp toàn diện công nghệ số vào mọi lĩnh vực hoạt động nhằm thay đổi phương thức vận hành, quản trị, ra quyết định và cung cấp dịch vụ. Trong lĩnh vực GD&ĐT quân sự, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học mà còn bao hàm việc tái cấu trúc mô hình đào tạo, cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý và môi trường học tập, hướng đến xây dựng nhà trường quân đội thông minh.

Theo Bộ Quốc phòng, mô hình nhà trường quân đội thông minh là mô hình “kết hợp chặt chẽ giữa nền tảng chính trị - tư tưởng, bản sắc văn hóa quân sự với năng lực số hóa quản trị, đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh”. Đặc trưng của mô hình này bao gồm: ứng dụng học liệu số, quản lý điều hành qua nền tảng số, tích hợp hệ thống dữ liệu huấn luyện, xây dựng giảng đường thông minh, và thúc đẩy nghiên cứu khoa học - công nghệ trong đào tạo quân sự.

Năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng

Năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng là tổng hợp các yếu tố thể hiện khả năng định hướng chính trị - tư tưởng, tổ chức thực hiện, kiểm tra – giám sát và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng đối với một đơn vị, lĩnh vực hay nhiệm vụ cụ thể. Trong điều kiện chuyển đổi số, năng lực này cần được mở rộng theo hướng thích ứng với môi trường công nghệ số, đổi mới phương thức lãnh đạo, và nâng cao khả năng tổ chức, điều phối, phản ứng chiến lược trong bối cảnh số hóa.

Tổ chức đảng trong nhà trường quân đội có vị trí đặc biệt – vừa là trung tâm chính trị, vừa là lực lượng lãnh đạo toàn diện. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” - và trong điều kiện mới, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng càng cần thể hiện qua năng lực thích ứng công nghệ, định hướng chiến lược số, kiểm soát tư tưởng trong không gian mạng, và giữ vững nguyên tắc tổ chức – sinh hoạt đảng trong môi trường phi truyền thống.

2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa chuyển đổi số và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng

Chuyển đổi số và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong nhà trường quân đội hiện nay có mối quan hệ hai chiều, tương tác chặt chẽ và mang tính chất biện chứng. Một mặt, chuyển đổi số tạo ra bối cảnh, phương thức và công cụ mới cho hoạt động lãnh đạo, từ đó buộc tổ chức đảng phải điều chỉnh cách tiếp cận, đổi mới tư duy và nâng cao năng lực thực tiễn. Mặt khác, chính năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng lại quyết định chất lượng, tốc độ và tính định hướng của quá trình chuyển đổi số trong môi trường quân sự - giáo dục.

Thứ nhất, chuyển đổi số đòi hỏi tổ chức đảng phải đổi mới tư duy lãnh đạo. Tư duy lãnh đạo truyền thống dựa vào trực giác, kinh nghiệm và mệnh lệnh hành chính không còn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu mới. Tổ chức đảng cần xây dựng tư duy chiến lược dựa trên dữ liệu, có khả năng đánh giá rủi ro công nghệ, năng lực hoạch định kế hoạch chuyển đổi trên nền tảng số, và biết khai thác công cụ công nghệ phục vụ mục tiêu chính trị – tư tưởng.

Thứ hai, chuyển đổi số làm thay đổi môi trường sinh hoạt và phương thức ra nghị quyết, kiểm tra – giám sát trong tổ chức đảng. Sinh hoạt chi bộ qua nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu đảng viên, lưu trữ văn kiện điện tử… đang tạo ra không gian lãnh đạo mới. Điều này đòi hỏi tổ chức đảng phải xác lập các nguyên tắc hành xử phù hợp với môi trường số, vừa bảo đảm kỷ luật đảng, vừa thích ứng linh hoạt với nền tảng công nghệ.

Thứ ba, tổ chức đảng có vai trò dẫn dắt chính trị, tạo đồng thuận và điều tiết các mối quan hệ trong quá trình chuyển đổi. Nếu không có sự lãnh đạo đúng đắn, chuyển đổi số dễ sa vào hình thức, đầu tư phân tán, mất kiểm soát chính trị - tư tưởng hoặc thậm chí dẫn đến lệ thuộc công nghệ một cách thụ động. Như C.Mác từng cảnh báo: “Công cụ sản xuất mới không bao giờ đơn thuần là trung lập; chúng luôn mang theo một cách tổ chức xã hội mới”. Tổ chức đảng cần đóng vai trò trung tâm điều tiết, kiểm soát và định hướng tiến trình này, bảo đảm tính cách mạng, dân chủ và bền vững.

 2.3 Yêu cầu mới đặt ra đối với năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong nhà trường quân đội thông minh

Thứ nhất, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng phải chuyển từ bị động thích ứng sang chủ động dẫn dắt chuyển đổi số. Trong bối cảnh chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu sống còn, tổ chức đảng phải là lực lượng tiên phong, xây dựng kế hoạch, định hướng chính trị, tổ chức nhân lực và bảo đảm toàn diện quá trình đổi mới mô hình nhà trường.

Thứ hai, năng lực định hướng chính trị – tư tưởng cần được nâng tầm để kiểm soát nhận thức cán bộ, giảng viên, học viên trong không gian số. Với sự đa dạng thông tin và nguy cơ bị tác động bởi các nguồn phi chính thống, tổ chức đảng phải tạo ra cơ chế bảo vệ nền tảng tư tưởng, định hướng dư luận nội bộ, đồng thời giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, kỹ năng phản biện và khả năng miễn nhiễm thông tin sai lệch cho cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Muốn lãnh đạo tốt phải học, phải hiểu rõ tình hình, phải gần gũi quần chúng” – trong thời đại số, điều đó đồng nghĩa với hiểu rõ công nghệ, nắm chắc dữ liệu, làm chủ truyền thông nội bộ và tạo dựng văn hóa mạng tích cực.

Thứ ba, tổ chức đảng cần nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn – tức khả năng chuyển hóa chủ trương thành hành động, kết nối giữa chỉ đạo và triển khai, điều phối giữa lực lượng đảng – chính quyền – chuyên môn trong nhà trường. Trong nhà trường quân đội thông minh, tổ chức đảng phải bảo đảm sự hài hòa giữa đổi mới công nghệ và giữ vững truyền thống, giữa sáng tạo kỹ thuật và chuẩn mực kỷ luật, giữa đổi mới phương pháp dạy học và giữ gìn nguyên tắc lãnh đạo toàn diện.

Thứ tư, năng lực giám sát - phản biện của tổ chức đảng cũng cần được hiện đại hóa. Thay vì chỉ sử dụng biện pháp hành chính, kiểm tra thủ công, tổ chức đảng cần ứng dụng công nghệ để theo dõi hoạt động chuyển đổi số, kiểm soát chất lượng và phát hiện sớm những lệch lạc về tư tưởng, vi phạm quy chế hoặc biểu hiện suy thoái. Việc đánh giá tổ chức đảng, đảng viên cũng cần tích hợp tiêu chí về ứng xử văn hóa trên mạng, năng lực tổ chức sinh hoạt số, đạo đức công nghệ và trách nhiệm chính trị trong không gian số.

Thứ năm, yêu cầu mới còn đòi hỏi tổ chức đảng phải phát triển năng lực tự học, tự điều chỉnh, thích ứng nhanh. Trong khi môi trường số biến đổi liên tục, nếu không đổi mới tư duy, không cập nhật kiến thức và công nghệ, tổ chức đảng dễ trở thành lực cản thay vì động lực của quá trình chuyển đổi. Vì vậy, chính đội ngũ cấp ủy phải là hạt nhân đổi mới, gương mẫu trong học tập, trong tổ chức và trong thực hiện chuyển đổi số, làm gương để lan tỏa tinh thần tiến bộ trong toàn đơn vị.

Tóm lại, cơ sở lý luận chỉ ra rằng, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong xây dựng nhà trường quân đội thông minh không thể chỉ dựa vào nền tảng truyền thống mà cần được kiến tạo mới từ tư duy, phương pháp đến công cụ, trên cơ sở vẫn giữ vững nguyên tắc của Đảng. Chính chuyển đổi số là cơ hội để tổ chức đảng phát huy vai trò hạt nhân chính trị, trung tâm đổi mới, là nơi kết nối lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn hiện đại hóa Quân đội trong kỷ nguyên số.

Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay cho thấy sự chuyển biến tích cực bước đầu trong nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng. Nhiều nhà trường đã bước đầu hình thành mô hình lớp học thông minh, số hóa hệ thống tài liệu giảng dạy, sử dụng nền tảng học trực tuyến, đồng thời tích hợp dữ liệu điều hành huấn luyện. Một số tổ chức đảng đã chủ động ban hành nghị quyết, kế hoạch chuyên đề về chuyển đổi số, bước đầu khẳng định vai trò dẫn dắt chính trị trong quá trình hiện đại hóa mô hình nhà trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn những tồn tại đặt ra thách thức không nhỏ đối với tổ chức đảng. Một bộ phận cấp ủy chưa theo kịp yêu cầu tư duy số; còn biểu hiện bị động, ngại đổi mới, thiếu nền tảng kiến thức công nghệ để chỉ đạo hiệu quả. Việc lồng ghép chuyển đổi số vào chương trình công tác đảng còn hình thức, thiếu chiều sâu. Công tác kiểm tra, giám sát trong môi trường số chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng triển khai thiếu đồng bộ giữa các đơn vị, bộ phận chuyên môn và tổ chức chính trị.

Đáng chú ý, trong khi chuyển đổi số diễn ra ngày càng sâu rộng, một số tổ chức đảng vẫn duy trì phương thức lãnh đạo thủ công, mang tính truyền thống, dẫn tới sự lúng túng trong định hướng tư tưởng – chính trị trước các biểu hiện lệch chuẩn trong môi trường số. Nếu không kịp thời khắc phục, tổ chức đảng sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu, giảm vai trò dẫn dắt, định hướng trong giai đoạn nhà trường quân đội chuyển mình mạnh mẽ theo hướng thông minh và hiện đại. Chính vì vậy, việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong điều kiện chuyển đổi số là một yêu cầu khách quan, cấp thiết hiện nay.

3. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng trong chuyển đổi số gắn với xây dựng nhà trường quân đội thông minh

        Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp

Nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của tổ chức đảng trong quá trình chuyển đổi số là tiền đề căn bản để xây dựng thành công mô hình nhà trường quân đội thông minh. Trong bối cảnh hiện nay, khi các nhà trường đang đẩy mạnh hiện đại hóa mô hình quản trị, đào tạo và điều hành trên nền tảng số, việc xác lập vai trò định hướng, lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng lại càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược.

Trên thực tế, còn không ít cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp chưa nắm bắt được toàn diện yêu cầu đặt ra từ môi trường số, dẫn tới tư duy lãnh đạo chưa theo kịp tốc độ đổi mới. Do đó, việc nâng cao nhận thức phải được tổ chức đồng bộ, bài bản, gắn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Quân đội về chuyển đổi số và xây dựng nhà trường thông minh. Đặc biệt, cần xác lập rõ nguyên tắc: chuyển đổi số là yêu cầu chính trị, không chỉ là vấn đề kỹ thuật.

Tổ chức đảng cần đưa nội dung chuyển đổi số và xây dựng nhà trường thông minh vào chương trình sinh hoạt định kỳ, đồng thời đánh giá năng lực tư duy số, trách nhiệm chính trị của từng cán bộ, đảng viên. Cán bộ chủ trì cần gương mẫu, chủ động học hỏi, tiếp cận công nghệ mới và có khả năng dẫn dắt tổ chức đảng thích ứng với môi trường hoạt động mới. Việc đổi mới nhận thức phải gắn liền với đổi mới hành động, từ đó tạo ra chuyển biến thực chất trong tổ chức và lãnh đạo các mặt công tác.

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm không chỉ để hiểu, mà là để hành động đúng, trúng và hiệu quả trong tiến trình xây dựng nhà trường quân đội thông minh – một mô hình đào tạo chính trị, quân sự hiện đại, tích hợp số hóa, và gắn kết chặt chẽ với mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

         Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trong môi trường số

Trong bối cảnh xây dựng nhà trường quân đội thông minh, phương thức lãnh đạo truyền thống của tổ chức đảng cần được đổi mới toàn diện theo hướng hiện đại, linh hoạt và tích hợp số hóa. Không chỉ dừng lại ở việc ban hành nghị quyết và chỉ đạo bằng hành chính mệnh lệnh, tổ chức đảng phải chủ động áp dụng các công cụ số vào quá trình điều hành, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.

Cần chuyển từ mô hình lãnh đạo phân tán sang lãnh đạo tích hợp, trong đó các cấp ủy sử dụng nền tảng công nghệ để tổ chức sinh hoạt đảng, phổ biến chủ trương, giám sát tiến độ triển khai nhiệm vụ. Các hệ thống quản trị dữ liệu, dashboard chính trị – chuyên môn – tư tưởng cần được xây dựng để hỗ trợ cấp ủy đánh giá thực chất, kịp thời đưa ra chỉ đạo chiến lược phù hợp. Đây chính là một trụ cột quan trọng trong mô hình nhà trường thông minh – nơi mọi quyết định đều dựa trên dữ liệu minh bạch, chính xác.

Đổi mới phương thức lãnh đạo còn gắn liền với việc tăng cường tính dân chủ trong sinh hoạt chính trị, mở rộng phản biện nội bộ, khuyến khích tư duy đổi mới, sáng tạo trong đảng viên. Cấp ủy các cấp cần coi chuyển đổi số là công cụ đắc lực để nâng cao hiệu lực lãnh đạo chính trị, đồng thời giảm tải quy trình hành chính, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao năng suất tổ chức.

Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo là giải pháp chiến lược, không chỉ tạo bước đột phá trong xây dựng tổ chức đảng hiện đại mà còn góp phần hiện thực hóa mô hình nhà trường quân đội thông minh – nơi lãnh đạo chính trị và quản trị công nghệ được hòa quyện trong một hệ thống toàn diện và hiệu quả. đây không chỉ là giải pháp nâng cao năng lực chuyển đổi số, mà còn nhằm hiện thực hóa mô hình nhà trường quân đội thông minh. Cần làm rõ vai trò trung tâm, định hướng, điều phối và đổi mới của tổ chức đảng, bảo đảm sự tích hợp giữa chính trị – công nghệ - giáo dục - văn hóa trong môi trường quân sự số hóa. Các giải pháp cần gắn kết với mục tiêu phát triển hệ sinh thái nhà trường thông minh có bản sắc chính trị, tính tự chủ cao, khả năng thích ứng nhanh và hiệu suất tổ chức tối ưu.

        Ba là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa tổ chức đảng, người chỉ huy và cơ quan chức năng

Một trong những thách thức đáng lưu ý trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo chuyển đổi số gắn với xây dựng nhà trường quân đội hiện nay chính là sự phối hợp chưa thật sự chặt chẽ, nhịp nhàng giữa tổ chức đảng với người chỉ huy và các cơ quan chuyên môn, chức năng. Cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chồng chéo về chức năng, thiếu minh bạch trong phân quyền và trách nhiệm, khiến cho nghị quyết của tổ chức đảng đôi khi không được hiện thực hóa hiệu quả trong hành động quản lý và triển khai kỹ thuật.

Trong điều kiện chuyển đổi số, nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ và linh hoạt, tổ chức đảng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện vai trò trung tâm lãnh đạo. Mối quan hệ giữa tổ chức đảng với người chỉ huy đơn vị và các cơ quan chuyên môn cần được thiết lập trên nguyên tắc “đồng thuận về chính trị – phân công rõ trách nhiệm – phối hợp linh hoạt về tổ chức”. Mỗi chủ thể trong hệ thống phải hiểu rõ phạm vi quyền hạn, vai trò và trách nhiệm của mình trong cấu trúc tổng thể của quá trình chuyển đổi số.

Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp cần tập trung vào ba hướng: (1) Đồng bộ hóa quy trình ra nghị quyết của cấp ủy với quy trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện của cơ quan chức năng; (2) Thiết lập cơ chế phản hồi thông tin hai chiều giữa tổ chức đảng - người chỉ huy - cơ quan chuyên môn thông qua nền tảng quản trị số thống nhất; (3) Quy định rõ vai trò tham mưu của các phòng, ban chuyên môn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu, thông tin kỹ thuật phục vụ cho cấp ủy lãnh đạo đúng, trúng và sát với điều kiện thực tiễn.

Cần nhìn nhận rằng, nếu thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả, tổ chức đảng rất dễ bị đẩy vào thế hình thức hóa vai trò, trong khi người chỉ huy và cơ quan chuyên môn lại thiếu định hướng chính trị – tư tưởng rõ ràng. Tình trạng “mạnh ai nấy làm”, hoặc đùn đẩy trách nhiệm, chồng chéo chức năng sẽ làm giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, thậm chí dẫn tới sai lệch chiến lược trong quá trình số hóa nhà trường quân đội. Do đó, hoàn thiện cơ chế không chỉ là vấn đề kỹ thuật hành chính, mà chính là vấn đề chính trị – tư tưởng có ý nghĩa sống còn trong bảo đảm vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong bối cảnh mới.

        Bốn là, xây dựng và thực hành chuẩn mực văn hóa lãnh đạo trong chuyển đổi số

Trong tiến trình xây dựng nhà trường quân đội thông minh, việc xây dựng và thực hành chuẩn mực văn hóa lãnh đạo đóng vai trò cốt lõi, tạo nền tảng tư tưởng - đạo đức - hành vi cho toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ huy và quản trị trong môi trường số. Đây không chỉ là vấn đề nhân cách cá nhân người lãnh đạo mà còn là biểu hiện của trình độ tổ chức đảng, phản ánh bản sắc văn hóa quân sự cách mạng trong bối cảnh hiện đại hóa.

Chuẩn mực văn hóa lãnh đạo trong chuyển đổi số cần được xây dựng trên ba nền tảng: (1) kế thừa các giá trị truyền thống như trung thành, kỷ luật, đoàn kết, phục tùng mệnh lệnh; (2) phát triển theo hướng hiện đại với tinh thần đổi mới, sáng tạo, minh bạch, hiệu quả; và (3) thích ứng với môi trường số, thể hiện qua khả năng ứng dụng công nghệ, ra quyết định trên cơ sở dữ liệu và tương tác đa chiều.

Việc thực hành chuẩn mực văn hóa lãnh đạo cần được thể chế hóa trong các quy chế sinh hoạt đảng, quy định về phong cách lãnh đạo, tiêu chí đánh giá cán bộ. Người đứng đầu tổ chức đảng phải là hình mẫu trong thực hành chuẩn mực: gương mẫu trong học tập số, ứng xử chuẩn mực trong giao tiếp trực tuyến, trung thực và trách nhiệm trong sử dụng dữ liệu. Đây cũng là cơ sở để tạo lập môi trường sư phạm chính trị – quân sự lành mạnh, hiện đại, văn minh.

Việc xây dựng bộ tiêu chí cụ thể, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng định kỳ, tuyên truyền nhân rộng gương điển hình là yêu cầu cấp thiết. Nếu chuẩn mực văn hóa lãnh đạo được định hình vững chắc, tổ chức đảng sẽ giữ được vai trò hạt nhân lãnh đạo không chỉ về chính trị – tư tưởng mà còn về phong cách quản trị, tổ chức trong nhà trường quân đội thông minh – nơi trí tuệ, bản lĩnh và công nghệ được hội tụ trong một chỉnh thể thống nhất. đây không chỉ là giải pháp nâng cao năng lực chuyển đổi số, mà còn nhằm hiện thực hóa mô hình nhà trường quân đội thông minh. Cần làm rõ vai trò trung tâm, định hướng, điều phối và đổi mới của tổ chức đảng, bảo đảm sự tích hợp giữa chính trị – công nghệ – giáo dục – văn hóa trong môi trường quân sự số hóa. Các giải pháp cần gắn kết với mục tiêu phát triển hệ sinh thái nhà trường thông minh có bản sắc chính trị, tính tự chủ cao, khả năng thích ứng nhanh và hiệu suất tổ chức tối ưu.

       Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng

Chuyển đổi số xây dựng nhà trường quân đội thông minh không thể chỉ dựa vào nỗ lực đơn lẻ của tổ chức đảng hay cơ quan chuyên môn kỹ thuật, mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, phối hợp chặt chẽ và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị. Các chủ thể cần được xác định bao gồm: hệ thống tổ chức đảng các cấp; tổ chức chỉ huy; các tổ chức quần chúng như đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội đồng quân nhân; các cơ quan chức năng trong nhà trường; lực lượng nòng cốt, chuyên trách về chuyển đổi số; cùng với sự đồng hành của các tập thể, cá nhân trong và ngoài Quân đội.

Tổ chức đảng giữ vai trò trung tâm định hướng, lãnh đạo toàn diện, có nhiệm vụ ban hành các nghị quyết, chủ trương về chuyển đổi số và kiểm tra, giám sát thực hiện. Tổ chức chỉ huy là lực lượng điều hành trực tiếp, cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy để đảm bảo đồng thuận trong thực hiện nhiệm vụ. Các tổ chức đoàn thể giữ vai trò quan trọng trong lan tỏa tư tưởng, khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo và tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong tiếp cận công nghệ mới.

Hội đồng quân nhân và các cơ quan chức năng nhà trường cần tích cực tham gia phản biện, góp ý, tổ chức thực hiện và kiểm soát quy trình chuyển đổi số bảo đảm tính chính quy, kỷ luật và phù hợp với yêu cầu đặc thù của quân đội. Lực lượng chuyên trách, nòng cốt cần được ưu tiên đầu tư, bồi dưỡng để dẫn dắt các hoạt động chuyên môn số và làm cầu nối giữa lãnh đạo – chỉ huy với các nhóm thực thi kỹ thuật số hóa.

Việc mở rộng hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ từ các chuyên gia, tập thể, cá nhân ngoài Quân đội, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, giáo dục, truyền thông, cũng cần được tổ chức đảng định hướng phù hợp nhằm tránh lệ thuộc, đảm bảo giữ vững nguyên tắc chính trị - tư tưởng và an ninh quân sự.

Như vậy, phát huy vai trò của các tổ chức và lực lượng là yêu cầu cơ bản để hình thành hệ sinh thái chuyển đổi số mang tính toàn diện, hiệu quả và bền vững, trong đó tổ chức đảng là hạt nhân lãnh đạo, điều phối và định hướng chiến lược. Việc xây dựng “mặt trận thống nhất” trong chuyển đổi số sẽ giúp nâng cao sức mạnh tổng hợp, tạo nên sự đồng thuận từ tư duy đến hành động, từ cấp lãnh đạo đến từng cán bộ, đảng viên, học viên. Qua đó, củng cố vững chắc vai trò trung tâm lãnh đạo của tổ chức đảng và thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nhà trường quân đội diễn ra đúng định hướng, hiệu quả và bền vững.

4. Kết luận

Xây dựng nhà trường quân đội thông minh là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình hiện đại hóa nền giáo dục - đào tạo quân sự, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong tiến trình đó, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng giữ vai trò trung tâm, định hướng và quyết định trực tiếp đến hiệu quả triển khai chuyển đổi số. Các giải pháp đã được phân tích trong bài viết này, từ nâng cao nhận thức, đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện cơ chế phối hợp, xây dựng chuẩn mực văn hóa lãnh đạo đến phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng là những nội dung then chốt, có tính hệ thống và thực tiễn cao.

Tổ chức đảng tại các nhà trường quân đội cần không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, phát huy vai trò hạt nhân chính trị trong mọi hoạt động. Trên nền tảng công nghệ số, tổ chức đảng không chỉ làm tốt vai trò định hướng tư tưởng mà còn tham gia tích cực vào quản trị hệ thống đào tạo thông minh, điều phối lực lượng, xây dựng văn hóa chính trị – quân sự trong môi trường số.

Thành công trong chuyển đổi số gắn với xây dựng nhà trường quân đội thông minh không chỉ thể hiện ở sự hiện đại về kỹ thuật – công nghệ, mà còn được quyết định bởi bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức và phẩm chất lãnh đạo của tổ chức đảng. Đây chính là điểm tựa vững chắc để nhà trường quân đội phát triển bền vững, hiện đại, chính quy và từng bước tiệm cận với mô hình GD&ĐT quốc phòng tiên tiến trên thế giới.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  2. Bộ Chính trị. (2023, ngày 10 tháng 10). Nghị quyết số 57-NQ/TW về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân tinh, gọn, mạnh, hiện đại.
  3. Quân ủy Trung ương. (2023, ngày 20 tháng 7). Nghị quyết số 1658-NQ/QUTW về chuyển đổi số trong Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
  4. Nguyễn Phú Trọng. (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  5. Hồ Chí Minh. (2000). Toàn tập (Tập 5). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia.
  6. Lê Minh Hưng. (2024). Phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập từ https://nhandan.vn
  7. Lưu Văn An. (2022). Một số yêu cầu đặt ra trong xây dựng nhà trường quân đội chính quy, hiện đại. Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (6).
  8. Trần Văn Sơn. (2024, tháng 7). Đề xuất một số chuẩn mực văn hóa và nhiệm vụ xây dựng văn hóa lãnh đạo, quản lý. Tạp chí Cộng sản (Số chuyên đề điện tử).
  9. Nguyễn Văn Thành. (2021). Văn hóa lãnh đạo trong xây dựng Đảng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tạp chí Xây dựng Đảng, (4).
  10. Tạp chí Quản lý nhà nước. (2023). Nhận diện các yếu tố của văn hóa lãnh đạo quản lý. Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử. Truy cập từ https://www.quanlynhanuoc.vn
  11. Tạp chí Quản lý nhà nước (2023), Nhận diện các yếu tố của văn hóa lãnh đạo quản lý, truy cập tại: https://www.quanlynhanuoc.vn

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).