Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" và bài học kinh nghiệm về đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, đào tạo ở các Nhà trường Quân đội trong tình hình mới
Cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên bầu trời Hà Nội đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 của quân đội Mỹ vào cuối tháng 12/1972, không chỉ là thắng lợi về quân sự mà còn là một thắng lợi lớn về chính trị. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học trong nước và quốc tế đã đánh giá, đang đánh giá và sẽ còn tiếp tục đánh giá về sự kiện lịch sử đó.
Nhìn lại toàn cục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta và đặt trong mối quan hệ quốc tế vào cuối năm 1972 thì cuộc chiến đấu 12 ngày đêm kiên cường, bất khuất của quân và dân ta trên bầu trời Hà Nội đã minh chứng cho một tinh thần, ý chí độc lập, tự chủ, một sức mạnh thần kỳ của dân tộc Việt Nam. Cuộc chiến đấu đó không chỉ phản ánh tương quan về quân sự giữa hai quân đội mà còn phản ánh sự đối đầu về ý chí giữa các nước lớn lúc bấy giờ.
Nguyên nhân làm nên chiến thắng đó đã được nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra dưới những góc độ tiếp cận khác nhau. Bài viết này chỉ khai thác một số nguyên nhân tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân ta trong trận chiến đấu oanh liệt trên bầu trời Hà Nội và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng sức mạnh đó xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong tình hình mới.
Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là đỉnh cao của sự phát huy nhân tố chính trị tinh thần của con người. Cơ sở tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần đó chính là truyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng của dân tộc được đúc kết qua các thời kỳ lịch sử. Nếu chỉ so sánh về tiềm lực quân sự trên không thì vào cuối năm 1972, chưa có một sức mạnh nào vượt qua được pháo đài bay B52, chưa có một quân đội nào bắn rơi được máy bay B52. Thế mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã dám đánh và đã chiến thắng oanh liệt. Tại sao Quân đội nhân dân Việt Nam lại dám đánh và dám chắc là sẽ chiến thắng? Đáp án trả lời cho câu hỏi này phải tìm trong truyền thống lịch sử của dân tộc. Bởi vì, chúng ta đánh máy bay B52 không phải chỉ bằng tên lửa và các loại vũ khí hiện có mà bằng cả niềm tin mãnh liệt. Đó là niềm tin của ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ; niềm tin của chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa; niềm tin của thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và niềm tin của thắng lợi trên chiến trường miền Nam. Đó là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính niềm tin đó đã làm tăng thêm hiệu quả của các loại vũ khí, đã làm cho vũ khí thông thường cũng có thể bắn rơi máy bay B52 hiện đại nhất.
Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là chiến thắng của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" đã để lại cho lịch sử quan hệ quốc tế nói chung và lịch sử của dân tộc ta nói riêng nhiều bài học về đường lối đối nội và đối ngoại vô cùng quý báu. Xét trên bình diện quốc tế, vào thời điểm năm 1972, mối quan hệ giữa Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ có những diễn biến mới khá phức tạp. Một số nước lớn bắt tay nhau tiến hành các hoạt động công khai đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích quốc tế. Sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến của Việt Nam đã bị cắt giảm xuống mức thấp nhất. Tình hình thế giới có những diễn biến bất lợi cho cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã chọn thời cơ đó để tiến hành cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác hòng đánh phá hủy diệt các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, khu dân cư ở trung tâm đầu não của Việt Nam. Nhưng với đường lối đối ngoại độc lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta không những không bị động về chiến lược quân sự, không bị tác động tiêu cực từ sự can thiệp của các mối quan hệ từ bên ngoài mà đã chủ động chuẩn bị về vật chất, tinh thần và phương án tác chiến cho cuộc chiến đấu đánh bại cuộc đột kích chiến lược của quân đội Mỹ trên bầu trời Hà Nội làm nên chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không". Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" đã đập tan những âm mưu thủ đoạn chính trị của nhà cầm quyền Mỹ lúc bấy giờ, đồng thời đó cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai muốn dùng chiến tranh Việt Nam để mặc cả về các điều kiện riêng tư nào đó.
Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" là chiến thắng của sức mạnh dân tộc được hun đúc trong lịch sử. Dân tộc ta đã từng đương đầu với các kẻ thù hung hãn nhất và được tôn sùng là hùng mạnh nhất thế giới. Chúng ta đã từng chiến thắng kẻ thù bằng những trận đánh lớn trên địa bàn sông nước và trên địa bàn rừng núi. Chiến thắng đó không những đã tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của dân tộc mà còn góp phần chuẩn bị sức mạnh tinh thần cho trận tác chiến lớn trên không. Nếu không có chiến thắng của Ngô Quyền trong trận đánh quân Nam Hán năm 938 thì không có chiến thắng của Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng năm 1288 trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Nếu không có chiến thắng của các cuộc kháng chiến trong các triều đại phong kiến Việt Nam thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp và cũng sẽ không có chiến thắng trên bầu trời Hà Nội vào cuối năm 1972.
Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" đã củng cố niềm tin rằng, không có một sức mạnh siêu cường nào là bất khả xâm phạm. Khi đã có tinh thần, ý chí dám đánh, quyết đánh thì nhất định sẽ tìm ra cách đánh. Vấn đề cốt lõi nhất của mọi cuộc chiến tranh là phải xây dựng được tinh thần, ý chí dám đánh và quyết đánh cho toàn quân, toàn dân.
Kỷ niệm 50 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, khó lường. Xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho quân và dân ta trong bối cảnh đó càng trở nên quan trong hơn bao giờ hết. Bởi vì, sức mạnh tinh thần, tuyền thống yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng là một nguồn lực quý báu của dân tộc Việt Nam. Đó là một nguồn lực đặc biệt, một nguồn lực càng sử dụng thì càng phát triển. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước, mà đặc biệt là trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết khai thác giá trị truyền thống của dân tộc biến giá trị truyền thống đó thành sức mạnh vật chất. Ngày nay, trong xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, thời cơ và thách thức đan xen nhau cùng tồn tại, việc khai thác, sử dụng nguồn lực đó đang được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết cho việc xây dựng nhân tố con người.
Đồng thời với việc tích cực chuẩn bị về vật chất cần phải coi trọng công tác chuẩn bị về chính trị tinh thần cho quân và dân. Việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nan toàn diện, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm nền tảng, đã phát huy mạnh mẽ, cao độ nhân tố con người - nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cuộc đọ sức thần kỳ trong "12 ngày đêm Hà Nội" nói riêng và là nhân tố hàng đầu của nền nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam.
Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, công tác giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội phải hướng vào xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị, tư tưởng và tổ chức cần tập trung vào những nội dung sau:
Một là, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cho học viên ở các nhà trường quân đội. Mọi hoạt động giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân đội phải góp phần nâng cao giác ngộ và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; xây dựng ý thức trách nhiệm, niềm tin tuyệt đối trong cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước; xây dựng niềm tin vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước; của khối đại đoàn kết toàn dân, truyền thống lịch sử oai hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc; xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng; tinh thần tự lực tự cường, vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chủ động phòng chống các âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của kẻ thù; giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Hai là, trong giáo dục đào tạo ở các nhà trường quân đội phải gắn quân sự với chính trị, tập trung xây dựng quân đội tinh nhuệ về chính trị. Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn quân sự. Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm của quân và dân ta trên bầu trời Hà Nội không thuần túy chỉ là cuộc đấu tranh vũ trang mà hàm chứa trong đó cả những thủ đoạn chính trị của hai bên tham chiến và của các lực lượng khác trên thế giới. Quá trình giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân sự phải bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, nhất là trình độ, bản lĩnh chính trị của mọi quân nhân trong bối cảnh vừa hợp tác vừa đấu tranh. Đồng thời phải xây dựng cho mọi quân nhân có các phẩm chất tinh thần, tâm lý bền vững để tác chiến trong chiến tranh hiện đại, chiến tranh công nghệ cao; trong xử lý các tình huống khẩn cấp về quốc phòng, các tình huống trong tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến thuật khi chiến tranh; đồng thời vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ba là, nâng cao tính đảng, đảm bảo sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong nội dung, chương trình đào tạo của các nhà trường quân đội. Các nhà trường quân đội phải nghiên cứu giải pháp giữ vững, tăng cường và ngày càng hoàn thiện cơ chế lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân. Sức mạnh của quân đội chủ yếu là sức mạnh trong nhân dân. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng thì quân đội mới khai thác được sức mạnh lòng dân. Bài học kinh nghiệm từ trận chiến đấu 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội đã chứng minh rằng, nhờ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà chúng ta đã hạn chế được sự tác động tiêu cực trong quan hệ quốc tế, đã chủ động chuẩn bị về vật chất, tinh thần và phương án tác chiến đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng. Quá trình giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân đội phải đảm bảo cho các học viên nâng cao cảnh giác, chống âm mưu “phi đảng hóa”, “phi chính trị” quân đội của các thế lực thù địch; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường đấu tranh phê bình và tự phê bình, triển khai thực hiện có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4, khóa XIII; tăng cường công tác bảo vệ chính trị, nội bộ, phát huy trách nhiệm của người chỉ huy, người cán bộ chính trị các cấp trong quân đội.
Bốn là, đổi mới giáo dục đào tạo của nhà trường tương thích với quá trình xây dựng quân đội về tổ chức, biên chế và phương thức tác chiến. Tiếp tục xây dựng quân đội về tổ chức, xây dựng dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, quân sự trong tình hình mới. Ngày nay, những cuộc chiến tranh ở một số quốc gia đã chứng minh rằng, các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị thường xen kẽ với nhau, chuyển hóa cho nhau. Sức mạnh của quân đội không chỉ là sức mạnh quân sự mà còn là sức mạnh của công tác tổ chức, biên chế đội hình sao cho phù hợp với phương thức tác chiến mới và phù hợp với trình độ phát triển của xã hội. Vận dụng bài học kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội cuối tháng 12/1972 vào tình hình hiện nay, cần phải tăng cường “xây dựng thế trận lòng dân” trong bối cảnh mới. Triển khai xây dựng dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, xây dựng lực lượng phòng không ba thứ quân kết hợp với xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không của mọi kẻ thù trong mọi tình huống.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng, cơ động tác chiến, linh hoạt, sáng tạo. Các nhà trường quân đội phải nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức, xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc gắn với xây dựng quân đội về tổ chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trước hết, cần phải quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
PGS.TS. Trần Đình Tuấn