CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐẶT TÊN BÚT DANH CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
Lê Thị Hương Lan-
Đại học Phenikaa
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bút danh với tư cách là một trong những loại tên gọi chiếm vị trí khá quan trọng trong hệ thống tên người hiện vẫn còn là một mảng đề tài thú vị và khá mới mẻ. Bài viết này sẽ tiến hành miêu tả cấu tạo và phương thức đặt tên bút danh của các nhà văn Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945 nhằm góp phần khẳng định vai trò quan trọng của tên riêng chỉ người trong hệ thống tên riêng tiếng Việt và góp phần tìm hiểu phong cách của các nhà văn thông qua tên bút danh của họ.
Từ khóa: bút danh, tên riêng, tên người
1. Mở đầu
Tên riêng (proper name) là hệ thống tên gọi đặc biệt, chúng tồn tại dưới nhiều hình thức rất đa dạng và phức tạp. Riêng chỉ đối với tên người, cũng có hàng chục kiểu tên người khác nhau như: tên chính, tên tục, bút danh, biệt danh, pháp danh,…Đặc biệt, bút danh với tư cách là một trong những loại tên gọi chiếm vị trí khá quan trọng trong hệ thống tên người hiện vẫn còn là một mảng đề tài thú vị và khá mới mẻ. Xuất phát từ tinh thần đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu tên người và bút danh trên thế giới và Việt Nam
Nghiên cứu tên người với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Nhân danh học đã được hình thành và phát triển từ sớm trên thế giới. Vào những năm cuối thế kỉ XIX, khoa học này đã phát triển với hàng trăm công trình được công bố. Trong đó, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: Les noms de famille de France và Dictionnaire étymologique des noms de famille et prenoms de France của tác giả A. Dauzat; English surnoms (1875) của M.A Lower; Homes of family names in Great Britain (1890) của C.Th Angerman;…
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu tên người cũng được tiến hành khá sớm. Vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số tài liệu về tên riêng tiếng Việt đã bắt đầu xuất hiện, nhưng đó mới chỉ là những công trình khảo cứu, biên soạn về nhân danh hay địa danh Việt Nam. Cho đến những năm 80 - 90 thế kỷ XX, đặc biệt là những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về tên riêng tiếng Việt xuất hiện ngày càng nhiều với tên tuổi của các tác giả như: Lê Trung Hoa, Phạm Tất Thắng,…. với một số công trình nghiên cứu chuyên sâu tiêu biểu như cuốn Họ và tên người Việt Nam (1992) của tác giả Lê Trung Hoa; Nghiên cứu tên người trên bình diện ngôn ngữ học - xã hội, “Những vấn đề ngôn ngữ học xã hội” (2006) của tác giả Phạm Tất Thắng.
Hiện nay, vấn đề nghiên cứu tên người Việt đã được nhiều tác giả quan tâm, tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào nghiên cứu một số loại tên riêng như: tên chính (tên thật), tên thần linh,… Bút danh với tư cách là một loại của tên người, hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có công trình nào bàn luận kỹ, toàn diện và hệ thống, hầu như chỉ mới dừng lại ở các bài chuyên khảo, những cuốn sách mang tính sưu tập, các bài báo ngắn, nhỏ lẻ.
2.2. Khái quát về tên người và bút danh
Tên người là gì? Tên người hay nhân danh là một loại tên riêng dùng để định danh người và phân biệt người này với người khác.Theo Lê Trung Hoa trong cuốn Họ và tên người Việt Nam, để nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc, ông phân loại nhân danh Việt Nam như sau:
- Họ: đây là một tập hợp hữu hạn, kín về nguyên tắc, bị trung hòa về các giá trị xã hội, ổn định, ít biến động có lịch sử lâu đời và có tính cha truyền con nối.
- Tên đệm: đây là hệ thống mở, thường có chức năng khu biệt giới tính, vừa liên hệ tới tập thể vừa liên hệ đến cá nhân, rất biến động, là một hiện tượng tâm lý – thẩm mỹ.
- Tên chính: đây cũng là một hệ thống mở, có số lượng phong phú hơn họ và tên đệm, gắn chặt với cá nhân và cũng là một hiện tượng tâm lý – thẩm mỹ.
- Các danh hiệu: hệ thống này thay đổi tùy theo thành phần xã hội (vua chúa; nho sĩ; quan lại; lãnh tụ; tri thức; văn nghệ sĩ; tu sĩ; dân thường;…) biến động theo chế độ chính trị (phong kiến, thực dân, ngày nay), mang tính thẩm mỹ cao, thấp tùy thành phần.
Trong các danh hiệu, tác giả lại chia ra 30 tiểu loại sau: Niên hiệu, Miếu hiệu, Thánh thụy, Tên húy, Miếu húy, Tự (tên tự, tên chữ), Hiệu (tên hiệu), Biệt hiệu, Tên tặng, Tước hiệu, Tên thụy, Bút danh, Nghệ danh, Xước danh, Pháp danh, Pháp tự, Pháp hiệu, Đạo hiệu, Tên thánh, Tục danh, Tên dân sự, Tên tục, Tên tộc, Tên khai sinh, Tên thường, Tên hèm, Bí danh, Mật danh, Ngụy danh, Biệt danh. Theo tác giả Lê Trung Hoa tất cả các tiểu loại trên đều là tên phụ.
Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi cho rằng, tên người được phân chia làm hai loại chính là: tên chính và tên phụ. Trong đó tên chính hay còn được gọi là tên thật, là tên gọi được ghi trong sổ hộ tịch, các văn bản hành chính và có giá trị về mặt pháp lý. Tất cả mọi người đều có tên chính.
Tên phụ bao gồm các loại tên chỉ người khác như: tên tục, tên húy, tên tự, tên hiệu, tên bút danh, bí danh… Ví dụ: Lương Thế Vinh (tên thật) có tên tục là Trạng Lường, tự là Cảnh Nghị và hiệu là Thụy Hiên.
Bút danh là gì? Bút danh là một trong những loại tên người. Hiện nay có nhiều quan điểm về bút danh. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, bút danh được định nghĩa như sau: “Bút danh là tên riêng dùng để ghi tên tác giả khi viết văn. Nguyễn Khắc Hiếu có bút danh là Tản Đà”. [2, tr.131]
Lê Trung Hoa trong cuốn Họ và tên người Việt Nam, cho rằng: “Bút danh là danh hiệu của người cầm bút như nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhạc sĩ, họa sĩ,…”.[4, tr.106]
Theo tư liệu trên trang wed: http://vi.wikipedia.org/, bút danh được định nghĩa là danh hiệu của những người cầm bút như: nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhạc sĩ, họa sĩ... để thay cho tên chính, hoặc đi kèm với tên chính để xác nhận tác quyền trên những tác phẩm văn chương, nghệ thuật..., đồng thời để biểu lộ một mục đích hay lý tưởng nào đó.
Qua các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, bút danh là tên riêng dùng để kí tên tác giả trong các tác phẩm văn học – nghệ thuật, các tác phẩm báo chí hoặc các công trình khoa học. Ví dụ: Anh Thơ là bút danh của nhà văn có tên thật là Vương Kiều Ân; Đông Hồ là bút danh của nhà văn có tên thật là Lâm Kỳ Phúc; Dương Tử Giang là bút danh của nhà văn có tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ.
2.3. Cấu tạo và phương thức đặt bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
2.3.1. Cấu tạo bút danh của các nhà văn
Mỗi một đơn vị ngôn ngữ luôn luôn tồn tại hai mặt song song, đó là mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện. Bút danh cũng vậy, với tư cách là một đơn vị trong hệ thống tên người của ngôn ngữ, trong mỗi bút danh luôn chứa đựng đầy đủ hai mặt là mặt hình thức và mặt ý nghĩa. Trong tổng số 206 bút danh được khảo sát, có 4 kiểu cấu tạo các bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 như sau:
a, Kiểu cấu tạo 1 âm tiết. Trong tổng số 206 bút danh được khảo sát, có 4 trường hợp có cấu tạo 1 âm tiết, chiếm tỉ lệ 1.94%. Đây là kiểu bút danh có số lượng âm tiết ít nhất và chiếm số lượng ít nhất.
Ví dụ: Hữu là bút danh của nhà văn Hữu Loan; Lan là bút danh của nhà văn Bùi Đình Khải; Nguyệt là bút danh của nhà văn Trần Hữu Tri.
b, Kiểu cấu tạo 2 âm tiết. Kiểu cấu tạo này có tổng số 130/ 206 bút danh, chiếm tỉ lệ 63.11%. Đây là kiểu cấu tạo chiếm số lượng nhiều nhất.
Về mặt cấu tạo, các bút danh có hai âm tiết có cấu tạo là một cụm từ.Chẳng hạn như: Cười Suông (Bùi Huy Phồn), Vịt Con (Vũ Đăng Bằng), Mắt Biển (Nguyễn Sen), Sông Ngân (Ngân Giang), Chị Mến (Đỗ Thị Quế), Chàng Văn (Ca Văn Thỉnh).
c, Kiểu cấu tạo 3 âm tiết. Trong tổng số 206 bút danh được khảo sát, có 67 trường hợp có cấu tạo 3 âm tiết, chiếm tỉ lệ 32.52%. Như vậy, đây là kiểu cấu tạo có số lượng đứng thứ hai sau kiểu cấu tạo 2 âm tiết.
Về mặt cấu tạo, trong tổng số 67 bút danh có cấu tạo 3 âm tiết, có 56/67 bút danh, chiếm tỉ lệ 83.58%, có cấu tạo giống một tên chính với cấu tạo gồm: Họ + tên đệm + tên cá nhân. Bút danh có cấu tạo kiểu này có thể đồng âm với tên thật của nhà văn.
Ví dụ: Đoàn Phú Tứ ( Đoàn Phú Tứ), Ngô Tất Tố ( Ngô Tất Tố), Nguyễn Xuân Sanh (Nguyễn Xuân Sanh), Nguyễn Xuân Huy (Nguyễn Xuân Huy), Khương Hữu Dụng (Khương Hữu Dụng)…
Bút danh có cấu tạo 3 âm tiết giống với cấu tạo tên chính cũng có thể là một tên hoàn toàn khác, không đồng âm với tên chính hay tên thật của nhà văn.
Ví dụ: Lưu Thị Hạnh (Hà Triệu Anh), Chế Lan Viên (Phan Ngọc Hoan), Nguyễn Thu Ý (Nguyễn Khắc Vy), Trần Văn Tấn (Nguyễn Đắc Giới), Vũ Đột Kích (Nguyễn Sen).
Trong tổng số 67 bút danh, có 11 bút danh, chiếm tỉ lệ 16.42%, có cấu tạo là một cụm từ. Chẳng hạn như: Nàng Không Tên (Đỗ Thị Quế), Tuấn Thừa Sắc, Ân Ngũ Tuyên (Nguyễn Tuân), Bút Chiến Đấu (Hồ Trọng Hiếu), Bách Thảo Sương (Lý Văn Sâm)…
d, Kiểu cấu tạo 4 âm tiết. Trong tổng số 206 bút danh được khảo sát có 2 bút danh, chiếm tỉ lệ 0.97% có cấu tạo bởi 4 âm tiết. Ví dụ: Cư Sĩ Nam Hà của nhà văn Đoàn Văn Cừ; Thy Thy Tống Ngọc của nhà văn Nguyễn Ngọc.
Trên đây, là những loại hình cấu tạo bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Có thể hình dung khái quát bức tranh về cấu tạo của các bút danh các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 qua biểu đồ sau: (Xem biểu đồ 3.1)

2.3.2. Phương thức đặt tên bút danh
Phương thức đặt tên bút danh chính là cách thức nhà văn lựa chọn để đặt tên bút danh cho mình. Trong 206 bút danh được khảo sát, chúng tôi tìm hiểu và phân tích thành 8 phương thức đặt tên bút danh như sau:
a, Phương thức giữ nguyên tên chính. Trong tổng số 206 bút danh được khảo sát có 48 bút danh được tạo ra bằng phương thức này, chiếm tỉ lệ 23.3%. Đây là phương thức được các nhà văn sử dụng nhiều nhất để đặt tên bút danh.
Ví dụ: Bùi Huy Phồn, Ca Văn Thỉnh, Đặng Thai Mai, Đoàn Phú Tứ, Đinh Hùng,…
b, Phương thức biến đổi hoặc rút gọn tên chính. Trong số 206 tên bút danh được khảo sát, có 23 bút danh, chiếm tỉ lệ 11.17%, được hình thành bằng phương thức này.
Cụ thể như:Có những trường hợp, bút danh ở dạng lược bỏ họ giữ lại tên đệm và tên cá nhân. Chẳng hạn: Tế Hanh (Trần Tế Hanh), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), Huy Cận (Cù Huy Cận), Hằng Phương (Lê Hằng Phương), Xuân Miễn ( Nguyễn Xuân Miễn).
Có hiện tượng bút danh ở dạng lược bỏ tên cá nhân, giữ lại họ và tên đệm. Ví dụ: Nguyễn Bính là bút danh của nhà văn Nguyễn Bính Thuyết; Hữu là bút danh của nhà văn Hữu Loan.
Có trường hợp bút danh ở dạng lược bỏ tên đệm, giữ nguyên họ và tên cá nhân. Ví dụ: Vũ Bằng là bút danh của nhà văn Vũ Đăng Bằng.
Có trường hợp thay đổi tên cá nhân, giữ lại họ và tên đệm. Ví dụ: Bàn Tài Đoàn là bút danh của nhà văn Bàn Tài Tuyên.
Có trường hợp giữ nguyên tên cá nhân, thay họ và tên đệm. Chẳng hạn như: Ngọc Giao là bút danh của nhà văn Nguyễn Huy Giao; Thy Ngọc và Thy Thy Tống Ngọc là 2 bút danh của nhà văn Nguyễn Ngọc;…
Có trường hợp giữ lại họ và tên cá nhân. Ví dụ: Đỗ Quế Anh là bút danh của nhà văn Đỗ Thị Quế.
Trường hợp khác lại giữ nguyên họ, thay đổi tên đệm và tên chính. Ví dụ: Bùi Như Lạc là bút danh của nhà văn Bùi Huy Phồn.
Có trường hợp rút gọn ngay tên bút danh chuyển thành một tên bút danh mới. Ví dụ: Đoàn là bút danh của nhà văn Bàn Tài Tuyên, được rút ngắn từ bút danh Bàn Tài Đoàn.
Còn có trường hợp nhà văn lấy các chữ cái trong tên chính của mình để ghép lại với nhau tạo ra tên bút danh. Chẳng hạn như: trường hợp bút danh Thúy Rư của nhà văn Trần Hữu Tri (Ở đây chữ i được chuyển thành y).
Có trường hợp, nhà văn viết tắt các chữ cái đầu trong tên chính để tạo thành bút danh. Chẳng hạn như nhà văn Bùi Huy Phồn lấy bút danh là tên viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tên của mình là BHP.
c, Phương thức sử dụng địa danh. Trường hợp này có tổng số 10/206 bút danh, chiếm tỉ lệ 4.85%. Đây là phương thức dùng tên quê hương của nhà văn, hoặc ghép tên của các địa danh sông, núi lại tạo thành bút danh.
Ví dụ: Nhà văn Trần Hữu Tri dùng hai chữ cái đầu trong tên huyện (Nam Sang) với chữ đầu tên tổng (Cao Đà) thành bút danh Nam Cao. Nhà văn Đỗ Thị Quế dùng tên một con sông trên quê hương mình đặt làm bút danh: Sông Ngân, Ngân Giang. Nhà văn Nguyễn Sen đặt bút danh Tô Hoài bằng cách ghép hai địa danh sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức – nơi ông được sinh ra.
d, Phương thức ghi lại dấu ấn kỉ niệm, sở thích của tác giả. Trong 206 bút danh được khảo sát, có 12 bút danh có cấu tạo bằng phương thức này, chiếm tỉ lệ 5.83%.
Ví dụ: Nhà văn Nguyễn Văn Tài vì yêu thích nhân vật tuồng Đổng Kim Lân nên đã lấy bút danh là Kim Lân. Nhà văn Trần Hữu Tri lấy bút danh Xuân Du là hai chữ đầu tiên trong một câu thơ ông yêu thích “Xuân du phương thảo địa”. Nhà văn Trần Đình Kim lấy bút danh Trần Huyền Trân vì nó gắn với một kỉ niệm của ông về một người phụ nữ ông đã từng cứu giúp. Trần Huyền Trân là tên ông đặt cho con gái của người phụ nữ ông đã cứu giúp đó.
e, Phương thức sử dụng các biện pháp chơi chữ. Bút danh được tạo ra bằng phương thức này có tổng số 5/206 bút danh chiếm tỉ lệ 2.43%. Đây là phương thức đặt tên bút danh bằng các biện pháp chơi chữ như nói ngược, nói lái, đánh vần tên chính.
Chẳng hạn như: Bùi Lão Kiều lấy bút danh Huyền Kiêu vì Huyền Kiêu = Kiều, vừa dùng biện pháp đánh vần vừa sử dụng biện pháp nói ngược. Nguyễn Tuân đánh vần tên cá nhân tạo ra bút danh Tuấn Thừa Sắc = Tuân. Nguyễn Thứ Lễ nói lái tên đệm và tên cá nhân trong tên chính tạo ra bút danh là Thế Lữ.
f, Phương thức sử dụng từ chỉ học vị đứng trước. Loại bút danh này có tổng số 3/206 bút danh, chiếm tỉ lệ 1.46%. Đây là phương thức được sử dụng để đặt tên bút danh khi các nhà văn có lòng kính phục với các bậc tiền bối đi trước về tài văn thơ trào phúng.
Ví dụ: Đồ Phồn (Bùi Huy Phồn), Tú Văn (Chu Văn Tập), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu).
g, Phương thức ghi lại dấu ấn các đặc điểm tâm sinh lý của bản thân nhà văn. Trường hợp này có tổng số 3/206 bút danh chiếm tỉ lệ 1.46%. Ở trường hợp này, bút danh phản ánh một số những đặc điểm tâm sinh lý nổi bật của bản thân nhà văn.
Chẳng hạn như sau: Nhà văn Cao Bá Thao vì gặp ai cũng nói thao thao bất tuyệt nên lấy bút danh là Thao Thao. Nhà văn Nguyễn Tuân lấy bút danh Nhất Lang (người đứng đầu) vì ông là con trai cả trong gia đình. Nhà văn Ngô Tất Tố vì đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh, được gọi là Đầu xứ Tố nên lấy bút danh Xứ Tố.
h, Phương thức sử dụng tên người thân. Trong 206 bút danh được khảo sát, chỉ có 1 bút danh được tạo ra bằng phương thức này. Đó là trường hợp bút danh Yến Lan của nhà văn Lâm Thanh Lang. Bút danh này được ghép bởi tên hai người bạn thân là Yến và Lan, trong đó một người là vợ của ông.
Trên đây là các phương thức đặt tên bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Bức tranh khái quát về các phương thức đặt tên bút danh các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 được tóm tắt qua bảng dưới đây: (Xem bảng 3.2)
Bảng 3.2: Phương thức đặt tên bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
|
STT |
Hình thức tạo bút danh |
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
|
1 |
Giữ nguyên tên chính |
48 |
23.3 |
|
2 |
Biến đổi và rút gọn tên chính |
23 |
11.17 |
|
3 |
Sử dụng địa danh |
10 |
4.85 |
|
4 |
Ghi lại dấu ấn sở thích, dấu ấn kỉ niệm |
12 |
5.83 |
|
5 |
Sử dụng biên pháp chơi chữ |
5 |
2.43 |
|
6 |
Sử dụng các từ chỉ học vị ở trước |
3 |
1.46 |
|
7 |
Ghi lại dấu ấn đặc điểm tâm sinh lý của bản thân |
3 |
1.46 |
|
8 |
Sử dụng tên người thân |
1 |
0.49 |
3. Kết luận
Như vậy, về mặt cấu tạo, bút danh của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có 4 kiểu cấu tạo cơ bản: kiểu cấu tạo 1 âm tiết, 2 âm tiết, 3 âm tiết và kiểu cấu tạo 4 âm tiết. Trong đó, kiểu cấu tạo 2 âm tiết chiếm tỉ lệ lớn nhất (63.11%), kiểu cấu tạo 4 âm tiết chiếm tỉ lệ nhỏ nhất (0.97%). Trong đó, điểm nổi bật là các bút danh có cấu tạo 2 âm tiết đều là các cụm từ, các bút danh có cấu tạo 3 âm tiết thì chủ yếu giống với cấu tạo một tên chính, có thể đồng âm hoặc không đồng âm với tên thật của nhà văn.
Về phương thức đặt tên bút danh, chúng tôi thống kê được 8 phương thức như đã kể trên. Trong đó, các phương thức giữ nguyên tên khai sinh, biến đổi hoặc rút gọn tên khai sinh, sử dụng địa danh được sử dụng phổ biến hơn các phương thức khác.
Tài liệu tham khảo
[1]. Hoài Thanh – Hoài Chân (1995), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học.
[2]. Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 2010.
[3]. Hội nhà văn Việt Nam (2010), Nhà văn Việt Nam hiện đại.
[4]. Lê Trung Hoa (1992), Họ và tên người Việt, Nxb KHXH, H.
[5]. Lê Hữu Tỉnh – Phạm Khải (2009), Kể chuyện bút danh nhà văn, Nxb Giáo dục.
[6]. Lê Trung Hoa (1992), Cách đặt tên chính người Việt, Trong “Tiếng Việ và các ngôn ngữ dân tộc phía Nam”, Nxb KHXH, H.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
STRUCTURE AND METHOD OF NAMING PSEUDONYM
OF VIETNAMESE WRITERS IN 1930 - 1945 PERIOD
Le Thi Huong Lan -
Phenikaa University
Email: [email protected]
Abstract: Pseudonym, as one of the types of names that occupy an important position in the person name system, is still an interesting and quite new topic. This article shall describe the structure and method of naming pseudonym Vietnamese writers in the 1930 – 1945 period to contribute to affirming the important role of person name in the Vietnamese proper name system and contribute to understanding writers' styles through their pseudonyms.
Key word: pseudonym, proper name, person name