1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

BỒI DƯỠNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUÂN NHÂN CHO HỌC VIÊN SĨ QUAN CÁC TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

10:23 | 01/05/2026
aA

 

Trần Vỹ - Lê Thành Long - Huỳnh Xuân Nam

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc bồi dưỡng phương pháp giáo dục quân nhân cho học viên sĩ quan là yêu cầu cấp thiết để hình thành năng lực chỉ huy và quản lý tư tưởng, kỷ luật bộ đội trong tương lai. Bài báo phân tích những thách thức đối với phương pháp giáo dục truyền thống trước sự thay đổi về nhận thức của chiến sĩ trong môi trường số. Từ đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm: đổi mới nội dung gắn với kỹ năng không gian mạng; ứng dụng mô hình học tập kết hợp và diễn tập ảo; phát triển hệ sinh thái học liệu số và nâng cao tư duy công nghệ cho học viên. Các giải pháp này góp phần hiện đại hóa quy trình đào tạo, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng tại đơn vị, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại.

Từ khóa: Bồi dưỡng; Giáo dục quân nhân; Học viên sĩ quan; Nhà trường quân đội; Chuyển đổi số.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số không chỉ là xu thế toàn cầu mà còn là yêu cầu khách quan để hiện đại hóa giáo dục - đào tạo và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã xác định mục tiêu trọng tâm là: “Đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý giáo dục theo hướng mở, hiện đại, thiết thực, hiệu quả; khắc phục tư duy bảo thủ, chậm đổi mới, ngại đổi mới. Xác định giáo dục và đào tạo là khâu đột phá quan trọng, nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cơ quan, đơn vị, nhà trường toàn quân, tạo đột phá trong công tác quản lý, điều hành và huấn luyện”. Đổi với học viên sĩ quan, những người trực tiếp quản lý, chỉ huy bộ đội tại đơn vị cơ sở tương lai, năng lực giáo dục quân nhân là yếu tố then chốt để xây dựng khối đoàn kết và sức mạnh tinh thần. Tuy nhiên, thực tiễn tại các đơn vị cơ sở cho thấy, phương pháp giáo dục truyền thống đang gặp nhiều thách thức trước sự bùng nổ của thông tin đa chiều và thói quen tương tác trên không gian mạng của chiến sĩ trẻ từ trước khi nhập ngũ. Do đó, việc bồi dưỡng phương pháp giáo dục quân nhân cho học viên cần một tư duy mới, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kinh nghiệm sư phạm truyền thống với các nền tảng công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tư tưởng, kỷ luật trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm, vai trò của phương pháp giáo dục quân nhân trong bối cảnh số

Trong hệ thống lý luận về giáo dục quân sự, phương pháp giáo dục quân nhân là tổng hợp các cách thức, biện pháp mà người chỉ huy, cán bộ quản lý sử dụng để tác động có hệ thống vào tư tưởng, tình cảm và nhận thức của bộ đội nhằm hình thành phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn. Bước sang bối cảnh chuyển đổi số, khái niệm này không còn bó hẹp trong các kỹ năng thuyết giảng hay rèn luyện trực tiếp trên thao trường, mà được mở rộng thành sự kết hợp linh hoạt giữa tương tác trực tiếp và tương tác số. Phương pháp giáo dục quân nhân lúc này bao hàm cả khả năng quản trị thông tin, khai thác dữ liệu số và sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại để định hướng tư tưởng cho quân nhân. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Sinh thời, Bác đã từng căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế”. Lời dạy của Người chính là kim chỉ nam cho việc đổi mới phương pháp; trong môi trường số, “công tác thực tế” không chỉ là nhiệm vụ tại đơn vị mà còn là thực tiễn sống động trên không gian mạng, đòi hỏi phương pháp giáo dục phải luôn biến đổi để không tách rời hơi thở của thời đại.

Trong kỷ nguyên số, phương pháp giáo dục quân nhân giữ vị trí quyết định đến hiệu quả chuyển hóa tri thức thành bản lĩnh chính trị. Trước sự bùng nổ của các luồng thông tin đa chiều và những âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội, phương pháp giáo dục hiện đại đóng vai trò là “màng lọc” quan trọng, giúp quân nhân tăng cường “sức đề kháng”và khả năng tự định hướng trước các thông tin độc hại. Không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, phương pháp giáo dục số hóa còn đóng vai trò kiến tạo môi trường học tập tương tác, giúp rút ngắn khoảng cách giữa chỉ huy và chiến sĩ, tạo sự thấu hiểu và gắn kết bền chặt trong đơn vị cơ sở. Đặc biệt, đối với học viên sĩ quan, việc làm chủ các phương pháp giáo dục hiện đại chính là chìa khóa để nâng cao hiệu quả quản lý, duy trì kỷ luật và xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị trong một môi trường đầy biến động. Đồng thời cũng là nghệ thuật để người sĩ quan trẻ hiện thực hóa mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại.

2.2. Đặc điểm của phương pháp giáo dục quân nhân trong bối cảnh số

Trong môi trường chuyển đổi số, phương pháp giáo dục quân nhân có những bước chuyển mình mạnh mẽ về chất, tập trung vào các đặc điểm cơ bản sau:

Một là, tính tương tác cao và khả năng phản hồi thời gian thực.

Khác với lối truyền đạt một chiều truyền thống, công nghệ số cho phép thiết lập một kênh đối thoại mở, liên tục giữa người chỉ huy và chiến sĩ, giúp các thông tin định hướng tư tưởng được lan tỏa nhanh chóng. Đặc điểm này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, bởi chỉ có sự tương tác linh hoạt và kịp thời trên không gian mạng mới giúp người sĩ quan nhận diện, uốn nắn những nhận thức lệch lạc của bộ đội trước các luồng thông tin độc hại một cách hiệu quả nhất. Điều này hoàn toàn phù hợp với phương châm giáo dục hiện đại là lấy người học làm trung tâm, tạo sự đồng thuận dựa trên sự thấu hiểu hai chiều.

Hai là, tính trực quan và sự sinh động trong truyền tải nội dung.

Phương pháp giáo dục hiện đại tận dụng tối đa hệ sinh thái đa phương tiện như hình ảnh, video, đồ họa và mô phỏng 3D để thay thế cho những bài giảng thuyết trình khô khan. Đặc điểm này là sự cụ thể hóa yêu cầu trong các văn kiện về đổi mới giáo dục, đào tạo quân đội, đó là: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, thiết thực”. Những công cụ này giúp học viên sĩ quan tái hiện các tình huống tư tưởng, kỷ luật tại đơn vị cơ sở một cách chân thực, từ đó kích thích tư duy, nâng cao khả năng tiếp thu và ghi nhớ của quân nhân đối với các nội dung giáo dục chính trị, pháp luật, biến các kiến thức trừu tượng thành những hình ảnh trực quan dễ hiểu, dễ làm theo.

Ba là, tính cá nhân hóa dựa trên nền tảng dữ liệu số.

Chuyển đổi số cho phép người chỉ huy nắm bắt chính xác đặc điểm tâm lý, trình độ và hoàn cảnh riêng biệt của từng cá nhân thông qua việc phân tích dữ liệu quản lý. Đây là sự vận dụng sáng tạo định hướng trong Nghị quyết 290-NQ/QUTW về việc: “khai thác, sử dụng hiệu quả dữ liệu số để nâng cao chất lượng dự báo, quản lý và điều hành”. Chính sự thấu hiểu sâu sắc dựa trên cơ sở khoa học này đã giúp học viên sĩ quan xây dựng được các phương pháp tác động sư phạm phù hợp với từng đối tượng (cá thể hóa giáo dục), đảm bảo nguyên tắc giáo dục sát thực tiễn, “đúng và trúng”. Từ đó, tạo ra chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của từng quân nhân, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị từ gốc, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong kỷ nguyên số.

2.3. Yêu cầu vận dụng phương pháp giáo dục quân nhân trong bối cảnh số

Vận dụng phương pháp giáo dục quân nhân trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ là việc thay đổi công cụ kỹ thuật mà còn là sự thay đổi về tư duy và phong cách làm việc của người chỉ huy. Để đạt được hiệu quả tối ưu, việc vận dụng này cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

Một là, tính định hướng chính trị và tính chiến đấu sắc bén. Đây là yêu cầu cốt yếu nhất, bởi môi trường số là không gian mở với sự đan xen của nhiều luồng thông tin phức tạp. Khi vận dụng các phương pháp giáo dục, học viên sĩ quan phải luôn bám sát mục tiêu xây dựng quân đội về chính trị, đảm bảo mọi hoạt động số hóa đều phục vụ việc củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Như định hướng trong Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo quân đội, việc vận dụng phương pháp mới phải nhằm: "tăng cường sức đề kháng, khả năng tự định hướng của quân nhân trước các thông tin sai lệch trên không gian mạng". Do đó, phương pháp giáo dục số phải mang tính tấn công, chủ động kịp thời bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ đơn vị cơ sở.

Hai là, tính phù hợp giữa công nghệ và đối tượng giáo dục. Chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc lạm dụng công nghệ một cách máy móc. Yêu cầu đặt ra là phải lựa chọn phương pháp và công cụ số sát với trình độ nhận thức, tâm lý và đặc thù nhiệm vụ của quân nhân tại đơn vị. Người sĩ quan tương lai cần biết cách "mềm hóa" các nội dung chính trị khô khan thành các sản phẩm số dễ tiếp cận như infographic, video ngắn hay các diễn đàn thảo luận trực tuyến. Việc vận dụng phải đảm bảo tính thiết thực, tránh hình thức, đúng như yêu cầu: "khắc phục tư duy bảo thủ, chậm đổi mới, nhưng đồng thời phải tránh chạy theo phong trào mà thiếu chiều sâu thực chất".

Ba là, tính bảo mật và kỷ luật thông tin trong hoạt động giáo dục. Trong bối cảnh số, ranh giới giữa giáo dục và mất an toàn thông tin rất mong manh nếu người chỉ huy không có kiến thức về an ninh mạng. Yêu cầu vận dụng phương pháp giáo dục quân nhân phải gắn liền với việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo mật bí mật quân sự. Học viên sĩ quan phải hình thành kỹ năng quản trị môi trường giáo dục số an toàn, biết cách hướng dẫn chiến sĩ khai thác internet phục vụ học tập nhưng không vi phạm kỷ luật phát ngôn và quy định phòng chống lộ lọt thông tin.

Bốn là, tính sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt. Chuyển đổi số là một quá trình vận động không ngừng với sự ra đời của nhiều công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI) hay thực tế ảo (VR). Điều này đòi hỏi học viên sĩ quan phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để làm chủ các phương tiện hiện đại. Việc vận dụng phương pháp giáo dục quân nhân phải luôn linh hoạt, biết kết hợp khéo léo giữa "truyền thống" và "hiện đại", giữa giáo dục trực tiếp thông qua tình cảm cá nhân với giáo dục gián tiếp qua không gian số để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý và rèn luyện bộ đội.

2.4. Một sô giải pháp bồi dưỡng phương pháp giáo dục quân nhân cho học viên sĩ quan ở nhà trường quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay

Một là, đổi mới nội dung bồi dưỡng gắn với kỹ năng số

Đổi mới nội dung bồi dưỡng đóng vai trò tiền đề, là yếu tố then chốt quyết định đến việc hình thành tư duy và năng lực sư phạm quân sự hiện đại cho học viên sĩ quan trong môi trường số hóa. Nội dung của giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc chương trình bồi dưỡng theo hướng giảm bớt những lý thuyết thuần túy, thay vào đó là cập nhật các chuyên đề bổ trợ mang tính thực tiễn cao gắn liền với không gian mạng. Trọng tâm là trang bị cho học viên hệ thống kiến thức và kỹ năng về giáo dục chính trị trên môi trường số, phương pháp quản lý tư tưởng bộ đội thông qua phân tích dữ liệu và nhận diện, xử lý hiệu quả các tình huống khủng hoảng truyền thông ngay tại đơn vị cơ sở. Việc đổi mới này nhằm hiện thực hóa mục tiêu trong Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là: “Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp huấn luyện theo hướng thực tế, sát nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn và phương án tác chiến”, giúp học viên sau khi tốt nghiệp có đủ khả năng làm chủ trận địa tư tưởng trên không gian số.

Để hiện thực hóa giải pháp trên, trước hết, các khoa giáo viên cần phối hợp xây dựng và đưa vào giảng dạy các modul kỹ năng về khai thác, chọn lọc và kiểm chứng thông tin từ Internet nhằm xây dựng nguồn học liệu số phong phú, tránh các thông tin sai lệch. Nhà trường cần tổ chức các buổi hướng dẫn thực hành biên tập bài giảng điện tử đa phương tiện, cách sử dụng các phần mềm đồ họa, dựng video ngắn để chuyển tải nội dung giáo dục quân nhân một cách sinh động, hấp dẫn. Bên cạnh đó, phải thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề về phương pháp nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái trên mạng xã hội, giúp học viên rèn luyện bản lĩnh và kỹ năng dẫn dắt tư tưởng cho chiến sĩ. Cuối cùng, định kỳ rà soát, cập nhật giáo trình theo sự phát triển của công nghệ để đảm bảo nội dung bồi dưỡng luôn mang tính thời sự và bám sát đời sống thực tế của quân nhân tại đơn vị cơ sở.

Hai là, đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng trên nền tảng công nghệ

Đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng đóng vai trò đột phá trong việc tối ưu hóa quá trình tiếp nhận tri thức, giúp chuyển hóa những lý luận sư phạm khô khan thành kỹ năng thực hành sống động cho học viên sĩ quan. Nội dung của giải pháp tập trung vào việc xóa bỏ sự thuần túy của các lớp học truyền thống để chuyển sang các mô hình giáo dục thông minh và linh hoạt. Trọng tâm là triển khai mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) nhằm phát huy tối đa ưu thế của tương tác trực tiếp và đào tạo trực tuyến trên hệ thống quản lý học tập (LMS). Đồng thời, giải pháp hướng đến việc hiện thực hóa các tình huống sư phạm thông qua môi trường ảo, giúp học viên có cơ hội rèn luyện bản lĩnh chỉ huy và kỹ năng xử lý tình huống tư tưởng trong một không gian giả định an toàn nhưng đầy tính thực tiễn. Việc đa dạng hóa này chính là bước đi cụ thể nhằm: “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng và các thành tựu khoa học hiện đại vào huấn luyện, giáo dục” theo tinh thần Nghị quyết 1659-NQ/QUTW, tạo ra môi trường học tập không giới hạn về thời gian và không gian.

Biện pháp thực hiện giải pháp được triển khai thông qua các bước cụ thể và khoa học. Trước hết, nhà trường cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) với kho dữ liệu bài giảng số phong phú, cho phép học viên chủ động nghiên cứu lý thuyết trước khi bước vào các phiên thảo luận chuyên sâu tại lớp. Thứ hai, các cơ quan chức năng cần phối hợp với chuyên gia công nghệ để thiết kế các phần mềm mô phỏng tình huống sư phạm ảo, nơi học viên phải đối mặt với các giả định phức tạp như: chiến sĩ đào bỏ ngũ, vi phạm kỷ luật phát ngôn trên mạng, hay diễn biến tâm lý tiêu cực trong đơn vị. Thông qua việc nhập vai và xử lý trên phần mềm, học viên sẽ được hệ thống phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm ngay lập tức. Cuối cùng, nhà trường cần duy trì các diễn đàn học thuật trực tuyến và các nhóm Zalo/Facebook nội bộ để giáo viên và học viên có thể trao đổi kinh nghiệm giáo dục quân nhân mọi lúc, mọi nơi, tạo nên một cộng đồng học tập số gắn kết và hiệu quả trước khi học viên bước vào thực tế tại các đơn vị cơ sở.

Ba là, nâng cao năng lực tự học và thích ứng công nghệ của học viên

Nâng cao năng lực tự học và khả năng thích ứng công nghệ đóng vai trò là nhân tố nội sinh quyết định sự phát triển bền vững về trình độ sư phạm quân sự của mỗi học viên. Nội dung của giải pháp tập trung vào việc chuyển đổi phương thức từ đào tạo thụ động sang tự đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên thông qua các nền tảng số hóa. Trọng tâm của giải pháp là hình thành cho học viên tư duy “học tập suốt đời” trên không gian mạng, giúp họ không chỉ làm chủ các kiến thức chuyên môn mà còn có khả năng tự trang bị các công cụ công nghệ mới để giải quyết các bài toán tâm lý, tư tưởng bộ đội một cách linh hoạt. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết số 71-NQ/TW về việc: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh tự học, tự bồi dưỡng”, từ đó tạo nguồn động lực tự thân để học viên sẵn sàng thích ứng với sự biến đổi không ngừng của kỷ nguyên số.

Biện pháp thực hiện giải pháp cần được triển khai sâu rộng và có tính khuyến khích cao trong toàn trường. Trước hết, nhà trường cần hướng dẫn và tạo điều kiện về hạ tầng để mỗi học viên xây dựng “Thư viện số cá nhân” nơi lưu trữ các bài giảng mẫu, phim tư liệu, sách điện tử và các tình huống giáo dục quân nhân điển hình mà học viên tự tổng hợp được trong quá trình học tập. Thứ hai, cần thành lập và duy trì hoạt động của các nhóm học thuật, diễn đàn trực tuyến liên thông giữa các khoa, các nhà trường và đơn vị thực tế. Tại đây, học viên có thể công bố các kết quả nghiên cứu nhỏ hoặc thảo luận về những thách thức mới trong quản lý chiến sĩ trẻ hiện nay, tạo sự cọ xát và chia sẻ kinh nghiệm đa chiều. Thứ ba, các cơ quan chức năng nên đưa tiêu chí “ứng dụng công nghệ trong tự học” vào đánh giá kết quả rèn luyện hằng năm, đồng thời tổ chức các cuộc thi thiết kế sản phẩm giáo dục số để kích thích tinh thần sáng tạo, giúp học viên biến công nghệ thành một bản năng trong mọi hoạt động công tác sau khi ra trường.

Bốn là, phát triển hệ sinh thái học liệu số về giáo dục quân nhân

Phát triển hệ sinh thái học liệu số đóng vai trò là nền tảng vật chất và kỹ thuật quyết định tính bền vững, thống nhất của quá trình bồi dưỡng phương pháp giáo dục quân nhân trong môi trường số. Nội dung của giải pháp tập trung vào việc xây dựng và chuẩn hóa nguồn tài nguyên số dùng chung, tạo ra một không gian tri thức mở giúp học viên tiếp cận được những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến nhất. Trọng tâm của giải pháp là việc số hóa toàn diện các dữ liệu về tâm lý, giáo dục và ứng dụng các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ ra quyết định sư phạm. Việc hình thành hệ sinh thái này nhằm thực hiện mục tiêu đột phá trong Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng nhà trường thông minh, thư viện số, học liệu điện tử hiện đại”, tạo sự đồng bộ giữa chương trình đào tạo của nhà trường với thực tiễn biến động của môi trường đơn vị cơ sở.

Biện pháp thực hiện giải pháp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa đội ngũ chuyên gia sư phạm và cán bộ công nghệ. Trước hết, nhà trường cần ưu tiên nguồn lực xây dựng “Kho dữ liệu dùng chung” bao gồm các bài giảng điện tử mẫu, hệ thống phim tư liệu về truyền thống và các ngân hàng tình huống tâm lý điển hình cùng hướng dẫn xử lý chi tiết. Thứ hai, cần triển khai các thuật toán trí tuệ nhân tạo để phân tích, dự báo các xu hướng tư tưởng và hành vi của chiến sĩ trẻ dựa trên dữ liệu tổng hợp, từ đó cung cấp cho học viên những luận cứ khoa học để lựa chọn phương pháp tác động sư phạm phù hợp nhất với từng đối tượng. Thứ ba, nhà trường phải định kỳ tổ chức rà soát, kiểm định chất lượng các học liệu số để đảm bảo tính chính xác về chính trị và tính hiện đại về công nghệ. Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế chia sẻ học liệu linh hoạt, cho phép học viên có thể truy cập và khai thác nguồn tài nguyên này mọi lúc, mọi nơi, biến hệ sinh thái số thành người “trợ lý ảo” đắc lực trong quá trình học tập và công tác thực tế sau này.

3. Kết luận

Bồi dưỡng phương pháp giáo dục quân nhân cho học viên sĩ quan trong bối cảnh chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu để hiện đại hóa giáo dục quân đội và thích ứng với sự biến đổi phức tạp của môi trường thông tin. Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật sư phạm truyền thống với các thành tựu công nghệ hiện đại không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý tư tưởng bộ đội mà còn là giải pháp then chốt để bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng tại đơn vị cơ sở. Đây chính là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV Đảng ta khẳng định: “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chủ động nắm chắc tình hình; nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, xử lý kịp thời các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ”. Thành công trong việc đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng và làm chủ hệ sinh thái học liệu số sẽ tạo tiền đề vững chắc để xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ đủ bản lĩnh và năng lực, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số./.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, Hà Nội.

[3] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo, Hà Nội.

[4] Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết ĐH Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Hà Nội.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo, Hà Nội.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo trong Quân đội, Hà Nội.

[7] Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.

[8] Chính phủ (2022), Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 21/04/2022 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.

[9] Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. (2021). Giáo trình Tâm lý học quân sự. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

 

FOSTERING MILITARY EDUCATION METHODS FOR OFFICER CADETS AT MILITARY ACADEMIES IN THE CURRENT CONTEXT

Tran Vy - Le Thanh Long - Huynh Xuan Nam

Nguyen Hue University

Email: [email protected]

Abstract: In the context of digital transformation, fostering military education methods for officer cadets is an urgent requirement to develop their future leadership capacity and management of soldiers' ideology and discipline. The article analyzes the challenges facing traditional education methods in light of changes in soldiers' perceptions within the digital environment. Based on this, the author proposes a set of key solutions: innovating content integrated with cyberspace skills; applying blended learning models and virtual pedagogical rehearsals; developing a digital learning material ecosystem; and enhancing students' technological mindset. These solutions contribute to modernizing the training process and improving the effectiveness of ideological work at the grassroots level, meeting the requirements of building a modern military.

Keywords: Fostering; Military education; Officer cadets; Military academies; Digital transformation.

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).