1. Nghiên cứu & kinh nghiệm
  2. >
  3. Giáo dục Việt Nam

BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

05:42 | 25/04/2026
aA

 

Trương Văn Thứ

Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội

 

Tóm tắt

Bài viết phân tích yêu cầu bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong bối cảnh chuyển đổi số và chiến tranh thông tin ngày càng gia tăng. Trên cơ sở làm rõ vai trò, đặc điểm và những thách thức hiện nay, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan tương lai có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực đấu tranh tư tưởng sắc bén trong tình hình mới.

Từ khóa: Không gian mạng; kỹ năng đấu tranh; học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội; nhà trường quân đội.

Nhận bài: 23/4/2026; Biên tập 24/4/2026; Duyệt đăng: 25/4/2026.

 

  1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, không gian mạng đã trở thành một “mặt trận” đặc biệt, nơi diễn ra các hoạt động đấu tranh tư tưởng, thông tin và nhận thức với cường độ ngày càng cao. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng môi trường này để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, tung tin giả, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Quân đội.

Đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội - lực lượng trực tiếp chỉ huy, quản lý bộ đội trong tương lai, việc được trang bị kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công tác bồi dưỡng nội dung này ở một số nhà trường quân đội còn chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của môi trường số, chưa hình thành được năng lực đấu tranh thực tiễn cho học viên.

Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho đội ngũ học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay.

2. Vai trò của việc bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

Bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội. Trong điều kiện môi trường thông tin đa chiều, phức tạp, người học viên không chỉ cần “vững về chuyên môn quân sự” mà còn phải “sắc về tư duy chính trị”, có khả năng nhận diện, phân tích và phản bác các quan điểm sai trái.

Trước hết, đây là yếu tố góp phần trực tiếp củng cố bản lĩnh chính trị cho học viên. Thông qua quá trình bồi dưỡng, học viên được trang bị hệ thống tri thức lý luận, phương pháp tư duy khoa học và khả năng xử lý thông tin, từ đó hình thành “sức đề kháng” trước các luồng thông tin xấu độc. Điều này giúp học viên giữ vững niềm tin, lý tưởng cách mạng trong mọi điều kiện.

Bên cạnh đó, kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng còn là công cụ quan trọng để những sĩ quan tương lai thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Trong thực tiễn đơn vị, sĩ quan cấp phân đội không chỉ quản lý bộ đội về hành động mà còn định hướng tư tưởng, nhận thức. Khi bộ đội tiếp cận thông tin trên mạng, người sĩ quan phải có khả năng phân tích, định hướng và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.

Ngoài ra, việc bồi dưỡng kỹ năng này còn góp phần nâng cao năng lực tác chiến trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Chiến tranh ngày nay không chỉ diễn ra trên chiến trường vật lý mà còn trên không gian mạng, nơi thông tin có thể trở thành “vũ khí mềm” tác động trực tiếp đến ý chí chiến đấu. Vì vậy, khả năng làm chủ không gian mạng trở thành một yêu cầu tất yếu đối với đội ngũ sĩ quan.

3. Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đấu tranh trên không gian mạng của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

Mặc dù đã được quan tâm, song việc bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội vẫn còn một số hạn chế nhất định. Nội dung bồi dưỡng, hướng dẫn ở một số nhà trường còn thiên về lý thuyết, thiếu tính cập nhật và chưa gắn với các tình huống thực tiễn sinh động trên môi trường mạng.

Phương pháp giáo dục còn nặng về truyền thụ một chiều, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Học viên chưa có nhiều cơ hội thực hành, trải nghiệm các tình huống đấu tranh cụ thể, dẫn đến khoảng cách giữa “biết” và “làm” còn khá lớn.

Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số và các nền tảng mạng xã hội đặt ra nhiều thách thức mới. Các hình thức thông tin sai trái ngày càng tinh vi, khó nhận diện, đòi hỏi người học không chỉ có kiến thức mà còn phải có kỹ năng phân tích, phản biện và xử lý linh hoạt.

Ngoài ra, một bộ phận học viên còn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của đấu tranh trên không gian mạng, dẫn đến tâm lý thụ động, né tránh hoặc thiếu tự tin khi tham gia đấu tranh. Điều này cho thấy cần có sự đổi mới toàn diện cả về nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức bồi dưỡng.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội hiện nay

Trước hết, cần đổi mới nội dung bồi dưỡng theo hướng thiết thực, hiện đại và gắn chặt với thực tiễn đấu tranh trên không gian mạng. Nội dung bồi dưỡng không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức lý luận cơ bản mà phải được cấu trúc theo hướng tích hợp giữa lý luận chính trị với kỹ năng thực hành. Trọng tâm là trang bị cho học viên khả năng nhận diện các dạng thông tin xấu độc, các thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch; đồng thời, bồi dưỡng kỹ năng kiểm chứng thông tin đa nguồn, phân tích logic, phát hiện ngụy biện và xây dựng lập luận phản bác có cơ sở khoa học, tính thuyết phục cao. Cùng với đó, cần bổ sung các nội dung mang tính tình huống như xử lý khủng hoảng thông tin, định hướng dư luận trong đơn vị, ứng xử chuẩn mực của quân nhân trên mạng xã hội… nhằm giúp học viên không chỉ “hiểu” mà còn “làm được” trong thực tiễn.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực và năng lực tư duy độc lập của người học. Thay vì phương thức truyền thụ một chiều, cần chuyển sang tổ chức các hoạt động học tập mang tính tương tác cao như thảo luận nhóm, tranh biện học thuật, xử lý tình huống giả định, phân tích các vụ việc thực tế trên không gian mạng. Việc đưa các tình huống cụ thể, có tính thời sự vào giảng dạy sẽ giúp học viên tiếp cận vấn đề một cách sinh động, từ đó hình thành tư duy phản biện, khả năng lập luận và kỹ năng đấu tranh một cách linh hoạt, sắc bén. Đồng thời, cần khuyến khích học viên tham gia các diễn đàn học thuật, các cuộc thi tìm hiểu, phản biện trên môi trường số, qua đó tạo môi trường rèn luyện thường xuyên, liên tục.

Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong tổ chức bồi dưỡng. Việc khai thác hiệu quả các nền tảng học tập trực tuyến, hệ thống quản lý học tập (LMS), học liệu số, video mô phỏng… không chỉ giúp nâng cao tính trực quan, sinh động mà còn mở rộng không gian và thời gian học tập. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng các “môi trường thực hành số” dưới dạng mô phỏng các tình huống đấu tranh trên mạng, nơi học viên có thể trực tiếp tham gia tương tác, xử lý thông tin, phản bác luận điệu sai trái trong điều kiện giả định gần với thực tế. Qua đó, từng bước hình thành năng lực “tác chiến tư tưởng” trên không gian mạng một cách bài bản, có hệ thống. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần gắn với nội dung và mục tiêu đào tạo, tránh chạy theo hình thức mà không mang lại hiệu quả thực chất.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả bồi dưỡng. Giảng viên không chỉ cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận sâu sắc mà còn phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới về công nghệ thông tin, truyền thông số và các xu hướng vận động của không gian mạng. Đồng thời, cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng sư phạm hiện đại, khả năng tổ chức các hoạt động học tập tích cực, cũng như năng lực hướng dẫn học viên xử lý các tình huống thực tiễn. Bên cạnh đó, việc xây dựng đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên trong lĩnh vực an ninh mạng, truyền thông số để hỗ trợ giảng dạy cũng là hướng đi cần được quan tâm.

Năm là, phát huy vai trò tự học, tự rèn luyện của học viên trong quá trình bồi dưỡng. Trong điều kiện môi trường thông tin luôn biến đổi nhanh chóng, việc trang bị kiến thức trong nhà trường chỉ mang tính nền tảng, còn năng lực thực sự phụ thuộc nhiều vào quá trình tự học, tự trải nghiệm của mỗi cá nhân. Do đó, cần hình thành cho học viên ý thức chủ động tiếp cận thông tin, kỹ năng chọn lọc và xử lý thông tin một cách khoa học, đồng thời xây dựng thái độ trách nhiệm khi tham gia không gian mạng. Việc rèn luyện “bản lĩnh số” - tức là khả năng giữ vững lập trường, kiên định quan điểm, không dao động trước các thông tin sai trái, cần được coi là một tiêu chí quan trọng trong quá trình đào tạo.

Tổng thể, các giải pháp trên cần được triển khai một cách đồng bộ, có sự gắn kết chặt chẽ giữa nội dung, phương pháp, công nghệ và con người. Chỉ khi đó, việc bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng mới thực sự đạt hiệu quả, góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan cấp phân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sắc bén và năng lực làm chủ không gian mạng trong tình hình mới.

5. Kết luận

Bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Đây không chỉ là nhiệm vụ giáo dục mà còn là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ giúp hình thành đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh, trí tuệ và năng lực làm chủ không gian mạng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
  2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội, 2018.
  3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội, 2020.
  4. Bộ Chính trị, Nghị quyết 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Hà Nội, 2018.
  5. Bùi Nguyên Hải, Nâng cao văn hóa ứng xử trên mạng xã hội của thanh niên quân đội trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động điện tử, ngày 29/06/202
  6. Vũ Văn Bách, Xây dựng hệ giá trị văn hóa của thanh niên quân đội trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày ngày 26/03/2025.

 

FOSTERING CYBERSPACE STRUGGLE SKILLS FOR CADET OFFICERS AT MILITARY ACADEMIES TODAY

Trương Xuân Thứ
Faculty of National Defense and Security Education - Hanoi University of Science and Technology

 Abstract

This article analyzes the need to cultivate cyber warfare skills in platoon-level officer trainees in the context of increasing digital transformation and information warfare. Based on clarifying the role, characteristics, and current challenges, the study proposes several solutions to improve the effectiveness of training, contributing to building a future officer corps with strong political resolve and sharp ideological combat capabilities in the new situation.

Keywords: Cyberspace; combat skills; platoon-level officer trainees; military schools.

 

Ý kiến bạn đọc
VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH  CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng E mail: [email protected] Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự và đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ khoá: Tiềm lực khoa học quân sự; công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).