BỒI DƯỠNG “KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH HẠNH PHÚC” CHO HỌC VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Ảnh minh họa
Tóm tắt: “Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của học viên các trường Quân đội chịu tác động của nhiều yếu tố, nhất là xu thế toàn cầu hóa, tác động của mặt trái kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, giáo dục khát vọng xây dựng phát triển đất nước cho học viên trong các trường quân đội là yêu cầu quan trọng, là trách nhiệm của nhà trường, Quân đội và hệ thống chính trị. Trên cơ sở làm rõ những nội dung đặt ra trong giáo dục khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc cho học viên, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiểu quả giáo dục nội dung này đối với học viên các trường Quân đội trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc, cống hiến; lòng yêu nước; giáo dục.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước những chuyển biến to lớn của thế giới và khu vực, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[1], Đảng ta đã khơi dậy một tinh thần, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, khẳng định con đường tiến lên của dân tộc ta vẫn là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chỉ có con đường này mới đưa dân tộc ta đến đích Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trước tác động đa chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt sự chống phá của các thế lực thù địch với những chiêu bài, thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, phức tạp, mục tiêu, lý tưởng, niềm tin, khát vọng của học viên bị tác động tiêu cực. Lối sống thực dụng và các giá trị văn hóa ngoại lai được du nhập từ nước ngoài đang từng bước đảo lộn hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Một số học viên có xu hướng đề cao giá trị vật chất, thích hưởng thụ, ngại cống hiến... Bên cạnh đó, sự thiếu trải nghiệm cuộc sống, học viên dễ bị dao động, cực đoan, chạy theo những cám dỗ vật chất cá nhân, các tệ nạn xã hội… Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu khách quan cần tăng cường bồi dưỡng mục tiêu lý tưởng, khơi dậy khát vọng cống hiến cho họ, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
2. Nội dung
1. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc
“Khát vọng phát triển đất nước là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con người trong cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai”[2]. Đối với dân tộc ta, khát vọng phát triển đất nước là một động lực nội sinh phi thường, tạo nên những kỳ tích trong suốt tiến trình dựng nước, giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc. Đó là khát vọng về chủ quyền quốc gia, là khát vọng đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế hệ người Việt Nam hôm nay có thể tự hào khẳng định: Dân tộc ta, một dân tộc đã trải qua muôn vàn hy sinh gian khổ để giành và giữ vững nền độc lập trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, một dân tộc đã quả cảm đổi mới để khẳng định vị thế trong dòng chảy thời đại trong hơn ba thập kỷ cải cách vừa qua, dân tộc đó phải được phồn vinh! Dân tộc đó phải được hùng cường! Kế thừa, phát triển khát vọng dân tộc, trên một vị thế mới, Đảng ta đã khơi dậy khát vọng xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[3]. Đây không phải là khát vọng giản đơn, chủ quan, mà là khát vọng mang sức sống hiện thực, xuất phát từ thực tiễn, hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân. Vì thế, giáo dục khát vọng cống hiến, ra sức phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân là sự biểu hiện sinh động, cụ thể, thiết thực trong giáo dục bồi đắp mục tiêu, lý tưởng sống cho học viên.
2.2. Bồi dưỡng “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc” cho học viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới
2.2.1. Nội dung bồi dưỡng
Thứ nhất, bồi dưỡng, giáo dục cho học viên truyền thống yêu nước, đoàn kết của các thế hệ người Việt Nam.
Lòng yêu nước là “mẫu số chung” của tất cả các giá trị Việt Nam truyền thống, trở thành cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta đứng vững, vượt qua những thử thách ngặt nghèo của lịch sử. Tất cả những thành tựu vĩ đại mà Đảng ta và Nhân dân ta có được trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình là “bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc”. Cũng chính lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết giúp Nhân dân ta chiến thắng thiên tai, dịch bệnh bảo vệ cuộc sống bình yên hạnh phúc cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta là phải chăm lo “phát triển tinh thần yêu nước của dân ta”, làm cho lòng yêu nước của mỗi người không “cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm”, mà phải được đem ra “thực hành vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đại hội XIII Đảng ta khẳng định: “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thanh niên”[4]. Bồi dưỡng giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết là xây dựng cho học viên những giá trị văn hóa nền tảng, hình thành niềm tự hào, tự tôn dân tộc, từ đó mỗi người nhận thức được bổn phận, trách nhiệm để viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc trong thời đại mới.
Thứ hai, bồi dưỡng, giáo dục cho học viên nhận thức đúng đắn mục tiêu, động lực khát vọng phát triển đất nước.
Thường xuyên giáo dục cho học viên thấy được sự trường tồn, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc ta không thể tách rời mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[5]. Đây là mục tiêu cao đẹp, khát vọng thiêng liêng của dân tộc trên con đường đi đến hạnh phúc. Do đó, cần quán triệt tư tưởng, đường lối của Đảng về “tăng cường giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”[6], “phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai”[7], làm cho mỗi học viên nắm vững thế giới quan biện chứng khoa học, có khả năng nhận diện, phân biệt phải, trái, đúng, sai; dám ủng hộ và bảo vệ cái mới; dám dấn thân, lập nghiệp, cầu tiến bộ.
Thứ ba, bồi dưỡng cho học viên thấu cảm các giá trị nhân văn của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, kết tinh những tinh hoa đạo đức, những giá trị Chân - Thiện - Mỹ của thế giới, của dân tộc Việt Nam được trao truyền qua nhiều thế hệ. Học viên các trường Quân đội cần được giáo dục đạo đức để có một “tâm hồn giàu có”, có bản lĩnh và nhân văn cao thượng, biết “tôn thờ” Tổ quốc, trung với nước, trung với Đảng và hiếu với Nhân Dân, có tình yêu thương con người, đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư. Đây là những giá trị văn hóa phổ quát, giá trị gốc, là những chuẩn mực chính trị quy định đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuy nhiên, “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[8], yêu cầu mỗi học viên phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, gắn với khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh.
Thứ tư, giáo dục, bồi dưỡng cho học viên nhận thức sâu sắc giá trị căn cốt của lối sống xã hội chủ nghĩa
Lối sống xã hội chủ nghĩa là một giá trị phản ánh nhu cầu và lợi ích của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là phẩm chất chính trị, đạo đức, có vai trò định hướng hành vi của con người. Lối sống xã hội chủ nghĩa của học viên gắn liền với yêu Tổ quốc, Nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, khoa học, có kỷ luật để trở thành những người anh hùng trong thời đại mới. Người học viên có lối sống XHCN phải siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai, cố gắng, tiết kiệm, không xa hoa lãng phí, chân thành, thẳng thắn, chống tham ô, lãng phí, tiêu cực; ham làm những việc ích nước, lợi dân, cống hiến hết mình cho Quân đội và đất nước. Đó không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là mục tiêu của lối sống mà mỗi học viên cần phải đạt tới. Nhận thức được các giá trị của lối sống XHCN giúp cho học viên biết tự điều chỉnh, “tự miễn dịch” trước tác động xấu của mặt trái kinh tế thị trường, có đủ bản lĩnh, vững vàng vượt lên mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
2.2.2. Giải pháp bồi dưỡng “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc” cho học viên các trường Quân đội hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức giáo dục đào tạo về sự cần thiết giáo dục khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho học viên
Giáo dục khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho học viên đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo tại các trường Quân đội. Các tổ chức giáo dục cần nhận thức đúng đắn sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của việc khơi khát vọng cống hiến cho học viên vừa là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục, vừa là trách nhiệm vẻ vang của sự nghiệp trồng người; Cần xây dựng được kế hoạch giáo dục khoa học và có những biện pháp khả thi, phối kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các ban, bộ phận, các lực lượng tham gia vào công tác giáo dục - đào tạo; thường xuyên kiểm tra đôn đốc, chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc trong nhận thức góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho học viên. Trong quá trình đó, các tổ chức phải phát hiện kịp thời những mâu thuẫn để có sự điều chỉnh phù hợp, tạo ra sự thống nhất giữa đào tạo trình độ học vấn với giáo dục khát vọng cống hiến cho học viên. Nếu chỉ chú trọng đào tạo kiến thức mà xem nhẹ giáo dục bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục, khơi dậy vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho học viên các trường Quân đội.
Hai là, phát huy trách nhiệm của cấp ủy, cán bộ chủ trì, các tổ chức, các lực lượng trong đánh giá, ghi nhận và tạo điều kiện tốt nhất cho học viên phát triển, cống hiến.
Đánh giá đúng và đề cao vai trò, tin tưởng ở học viên, tạo mọi điều kiện, phát huy các phẩm chất, năng lực cá nhân, kiến tạo môi trường thuận lợi, phát huy vai trò giám nghĩ, giám làm, giám đương đầu với khó khăn thách thức, quyết tâm đổi mới sáng tạo vì khát vọng cống hiến của học viên… là điều kiện tiên quyết để họ cống hiến tài năng, sức lực cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, phát triển đất nước. Cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì các cấp cần đồng hành, sát cánh, giáo dục, giúp đỡ học viên trong tất cả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động huấn luyện chiến đấu. Sự đánh giá, ghi nhận, kịp thời, phù hợp của các tổ chức, lực lượng sẽ giúp học viên ngày càng có thêm động lực phấn đấu, cống hiến vì mục tiêu lý tưởng. Bên cạnh đó, sau khi chủ động giao nhiệm vụ cho học viên, các cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị cần quan tâm giúp đỡ họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ, lựa chọn những học viên ưu tú kết nạp vào hàng ngũ của Đảng.
Ba là, tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cần thiết thực, phù hợp đặc điểm nhận thức, tình cảm của học viên. Các nội dung lý luận, chính trị cần được cụ thể hóa, gắn lý luận với thực tiễn sinh động cuộc sống đang diễn ra, quan tâm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, những vấn đề học viên quan tâm, không né tránh hoặc chỉ lý thuyết đơn thuần. Hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị cần phong phú, đa dạng, hấp dẫn, bám sát đặt điểm tâm lý lứa tuổi, vùng miền để thu hút học viên tham gia, tạo được hứng thú học tập cho học viên. Đặc biệt, quá trình giáo dục cần định hướng, giáo dục bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có ý thức nhạy bén chính trị, tích cực đấu tranh ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, tăng sức đề kháng cho học viên trước những biểu hiện tiêu cực, mặt trái của xã hội và sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.
Bốn là, phát huy vai trò chủ đạo của đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội
Đội ngũ giảng viên là nhân tố cơ bản quan trọng nhất, quyết việc hình thành phát triển ý thức về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho học viên. Đội ngũ giảng viên là nhân tố cơ bản quan trọng nhất, quyết định chất lượng
giáo dục - đào tạo, chất lượng nhân cách của học viên, “không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục thì không có cán bộ, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá”[9]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy dạy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”[10]. Xuất phát từ yêu cầu khắt khe của nghề nghiệp, đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội phải rèn luyện, trau dồi, phát triển ngôn ngữ của mình. Ngôn ngữ của giảng viên đòi hỏi phải đạt độ chính xác cao về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và độ hàm ý, tùy theo yêu cầu chuyên ngành đào tạo. Năng lực ngôn ngữ đó là kết quả của sự tu dưỡng lâu dài, bền bỉ trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về chuyên môn chuyên ngành và đối tượng tác động trong quá trình giáo dục đào tạo của nhà trường quân sự đặc thù. Nhiệm vụ chủ yếu của giảng viên là truyền đạt tri thức, trên cơ sở đó hình thành cho học viên năng lực sáng tạo, phẩm chất chính trị, đạo đức nhân cách. Vì vậy, năng lực chuyên môn giỏi, khả năng sư phạm tốt và vốn tri thức toàn diện về văn hoá, tâm lý, chính trị xã hội cùng vốn sống phong phú, phẩm chất chính trị - đạo đức tốt, tâm hồn trong sáng của người giảng viên là những nhân tố quan trọng tác động tới học viên, truyền cho họ động lực, niềm tin lý tưởng sống cao đẹp. Trong điều kiện kinh tế thị trường tác động mạnh mẽ đến quá trình giáo dục khát vọng của học viên, vai trò định hướng, “truyền lửa” của đội ngũ giảng viên là rất to lớn, giúp học viên lựa chọn bồi đắp những chuẩn giá trị đúng đắn.
Năm là, nâng cao nhận thức và phát huy vai trò tích cực chủ động của học viên các nhà trường Quân đội trong giáo dục khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nhận thức đúng là cơ sở để hành động đúng, khi học viên nhận thức đúng về vai trò của khát vọng cống hiến thì mới có niềm tin, có ý chí và quyết tâm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Để giải quyết vấn đề này, yêu cầu mỗi học viên phải là chủ thể tích cực trong việc phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn của quá trình tự giáo dục, về giá trị của cống hiến và hưởng thụ, gắn với mục tiêu yêu cầu hiện thực hóa khát vọng tuổi trẻ. Mỗi học viên cần phải xây dựng cho mình kế hoạch phấn đấu rèn luyện cụ thể, tỷ mỉ, thiết thực; lựa chọn hình thức, phương pháp tự học tập, tự giáo dục linh hoạt, sáng tạo; nêu cao ý chí quyết tâm, kiên quyết, bền bỉ thực hiện kế hoạch đã xác định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “kế hoạch mười phần thì biện pháp phải hai mươi phần và quyết tâm ba mươi phần”[11]. Đồng thời kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thiếu chủ động tự giác, không xác định rõ động cơ, quyết tâm, những hiện tượng phó mặc, bất cần, tự mãn trong quá trình tự rèn luyện, bồi dưỡng giáo dục khát vọng phát triển đất nước của học viên.
Sáu là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tốt đẹp trong các nhà trường Quân đội
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Muốn có xã hội tốt phải có con người tốt. Muốn có con người tốt phải có môi trường tốt. Đây là quan hệ biện chứng, thiên biến vạn hoá giữa xã hội và con người”[12]. Môi trường văn hóa quân sự gồm các quy định, chế độ chuẩn mực, nề nếp chính quy, phương pháp học tập, chế độ công tác, ăn ở sinh hoạt, lễ tiết, tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đó chính là cơ sở thực tiễn xã hội - quân sự để học viên từng bước điều chỉnh, hoàn thiện nhận thức, thái độ, hành vi, hình thành những phẩm chất nhân cách cần thiết của người cán bộ bảo đảm cho họ có đủ đức đủ tài đáp ứng yêu cầu xây dựng, chiến đấu của quân đội và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của dân tộc. Các nhà trường Quân đội cần quan tâm xây dựng các mối quan hệ chính trị, đạo đức, nghề nghiệp trong sáng lành mạnh, đậm chất nhân văn, thực sự là “vườn ươm” những “hạt giống tâm hồn” của học viên. Mỗi nhà trường phải trung thành, kiên định về chính trị, phấn đấu theo mục tiêu lý tưởng của Đảng. Các tổ chức trong nhà trường tin tưởng, đoàn kết, phấn đấu và cống hiến với tinh thần tự tôn, tự trọng, dân chủ và kỷ luật. Các mối quan hệ cấp trên cấp dưới, đồng chí đồng đội, thầy trò luôn hướng đến sự mẫu mực, trong sáng. Thực hiện điều này, các cấp lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, nhất là tổ chức đoàn ở các nhà trường Quân đội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các hoạt động bổ ích, thiết thực của đoàn, hội là những “phương thuốc” hữu hiệu giúp cho học viên có đủ sức đề kháng đứng vững trước những cám dỗ của cuộc sống, góp phần làm thất bại những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
3. Kết luận
Để xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường cần phải có ý chí niềm tin và khát vọng lớn. Muốn thực hiện được khát vọng ấy, việc khơi dậy lý tưởng cống hiến cho học viên các trường Quân đội là đòi hỏi cấp thiết của đất nước ta hiện nay, “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết”[13]. Hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những vận hội vô giá chưa từng có cho công cuộc phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vấn đề bồi dưỡng giáo dục khát vọng phát triển đất nước cho học viên các trường Quân đội là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Tuy nhiên, để khơi dậy một tầm nhìn khát vọng về một tương lai rạng rỡ của dân tộc, yêu cầu đầu tiên và có tính nền tảng đối với học viên không phải là chỉ cho họ cách thức nắm bắt cơ hội mà là giáo dục bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, có trí tuệ, bản lĩnh, nhân cách, đạo đức…, giúp học viên nhận diện rõ các thách thức cốt tử và có được quyết tâm lớn lao vượt qua mọi khó khăn thử thách để hiện thực hóa khát vọng thiêng liêng của Đảng, của dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
2. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hoá và đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội,1995
3. Bùi Kim Hậu (2021), Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai và ý nghĩa đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn
4. Vũ Minh Khương (2020), “Việt Nam 2045: Tầm nhìn khát vọng và sứ mệnh lịch sử”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 1-2.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, 4, 5, 6, 10, 11, 14, 15, Nxb CTQG, H, 2011.
6. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
7. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hoá và đổi mới, Nxb CTQG, H, 1995.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập II, tr.322
[2] Dẫn theo: Vũ Minh Khương (2020), “Việt Nam 2045: Tầm nhìn khát vọng và sứ mệnh lịch sử”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 1 - 2, tr. 15 - 17.
[3] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 24
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, Tập I, tr.143.
[5] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.53
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, Tập I, tr.168.
[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.5, tr.120
[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 5, tr 253
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.345
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.448
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr485.
[12] Phạm Văn Đồng (1995), Văn hoá và đổi mới, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 71.
[13] Hồ Chí Minh, (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, Tập 15, tr.622.