1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

BẢN LĨNH CỦA GIẢNG VIÊN QUÂN SỰ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

06:50 | 13/05/2026
aA

 

 

Đinh Xuân Thủy

Khoa quân sự chung, Trường Cao đẳng Công nghiệp quốc phòng

 

Tóm tắt: Không gian mạng đang tác động trực tiếp đến nhận thức chính trị, niềm tin và hành vi của cán bộ, học viên trong các nhà trường quân đội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chính trị hay giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, mà còn là trách nhiệm trực tiếp của giảng viên quân sự thông qua giảng dạy, huấn luyện và rèn luyện tác phong quân sự cho học viên. Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW, bài viết làm rõ vai trò, yêu cầu mới đối với giảng viên quân sự; đồng thời chỉ ra những hạn chế hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ này trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ giảng đường đến không gian mạng.

Từ khóa: Giảng viên quân sự; Không gian mạng; Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Bản lĩnh chính trị.

 

1. Đặt vấn đề

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với sự vững mạnh về chính trị của Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ. Trong điều kiện chuyển đổi số diễn ra nhanh, sâu, rộng, yêu cầu đó không còn chủ yếu đặt ra trong không gian xã hội truyền thống, mà ngày càng diễn ra trực diện trên không gian mạng, nơi thông tin lan truyền với tốc độ rất cao, phạm vi rất rộng, mức độ tác động rất mạnh và khả năng dẫn dắt nhận thức ngày càng tinh vi. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia” (1) và đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin” (2). Điều đó cho thấy không gian mạng không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin, mà đã trở thành môi trường trực tiếp liên quan đến an ninh quốc gia, an ninh tư tưởng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đối với nhà trường quân đội, vấn đề này càng trở nên cấp thiết bởi học viên vừa là đối tượng giáo dục, đào tạo, vừa là lực lượng sẽ trực tiếp đảm nhiệm hoạt động quân sự, quốc phòng trong tương lai. Nếu trên giảng đường chỉ dừng ở truyền đạt kiến thức, thao tác, điều lệnh mà không đồng thời rèn luyện cho người học phương pháp nhận thức đúng, năng lực kiểm chứng thông tin, ý thức kỷ luật phát ngôn và bản lĩnh chính trị trước các luận điệu xuyên tạc, thì khoảng trống sư phạm hôm nay rất dễ trở thành điểm hở tư tưởng ngày mai. Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị và các nguồn tin xấu, độc đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc đường lối của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, bôi nhọ hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam, công kích phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gieo rắc hoài nghi, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nhà trường quân đội không thể chỉ hiểu là phản ứng khi xuất hiện thông tin sai trái, mà phải là quá trình giáo dục phòng ngừa, xây dựng sức đề kháng tư tưởng và giữ vững thế trận lòng dân trên không gian mạng ngay từ quá trình đào tạo.

Trong hệ thống các chủ thể tham gia thực hiện nhiệm vụ đó, giảng viên quân sự giữ vị trí đặc thù. Họ không trực tiếp giảng dạy các môn lý luận chính trị như đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, nhưng lại trực tiếp huấn luyện, rèn luyện tác phong, xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, phương pháp xử trí tình huống và thái độ nghề nghiệp quân sự cho học viên. Chính thông qua con đường sư phạm ấy, giảng viên quân sự góp phần hình thành ở người học không chỉ năng lực chuyên môn quân sự mà còn cả bản lĩnh chính trị, kỷ luật nhận thức và khả năng đứng vững trước các thông tin bóp méo, xuyên tạc về quân đội, về nhiệm vụ quốc phòng và về người quân nhân cách mạng. Bởi vậy, vấn đề đặt ra không phải là mở rộng tùy tiện chức năng của giảng viên quân sự, mà là xác định đúng vị trí, giới hạn trách nhiệm, nội hàm bản lĩnh và cơ chế tác động của đội ngũ này trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ giảng đường đến không gian mạng

2. Yêu cầu mới đối với giảng viên quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Trước bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc môi trường giáo dục, đào tạo và huấn luyện trong quân đội, yêu cầu đặt ra đối với giảng viên quân sự không còn chỉ là hoàn thành tốt nhiệm vụ truyền thụ kiến thức, rèn luyện thao tác và tổ chức huấn luyện theo chương trình, mà phải chủ động tham gia giữ vững trận địa tư tưởng ngay trong quá trình dạy học quân sự. Yêu cầu này càng trở nên rõ hơn khi Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Lãnh đạo tốt công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, truyền thông; quản lý có hiệu quả an ninh mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Nghiên cứu xây dựng chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số” (3). Từ đó có thể thấy, trong nhà trường quân đội, nhiệm vụ của giảng viên quân sự không chỉ dừng ở mặt chuyên môn huấn luyện, mà phải được nhận thức như một mắt khâu trực tiếp góp phần xây dựng sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và kỷ luật cho người học.

Trước hết, giảng viên quân sự phải chuyển mạnh từ tư duy truyền thụ nội dung sang tư duy giáo dục định hướng và giáo dục phòng ngừa. Không gian mạng đã trở thành môi trường tác động thường xuyên đến nhận thức, tâm lý, thái độ và hành vi của học viên. Bởi vậy, giảng viên quân sự không thể chỉ dừng ở việc dạy đúng động tác, đúng điều lệnh, đúng quy trình, mà còn phải giúp người học hiểu đúng bản chất nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, hiểu đúng vị trí, chức năng, truyền thống và kỷ luật của quân đội cách mạng, từ đó hình thành khả năng đứng vững trước các thông tin bóp méo, xuyên tạc liên quan đến quân đội và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Giảng viên quân sự phải giữ vững kỷ luật phát ngôn, chuẩn mực nghề nghiệp và văn hóa hiện diện số của người thầy quân đội. Trong môi trường số, hình ảnh, lời nói, cách ứng xử và thái độ của giảng viên không còn bó hẹp trong phạm vi lớp học, mà có thể tác động trực tiếp đến học viên và môi trường sư phạm quân sự. Vì vậy, yêu cầu mới đặt ra không phải là nói nhiều hay tham gia tranh luận bằng mọi giá, mà là biết nói đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, đúng giới hạn trách nhiệm; biết giữ bí mật quân sự, bí mật công tác; biết thể hiện chính kiến chính trị rõ ràng nhưng không cực đoan, có tinh thần đấu tranh nhưng không tùy tiện, có bản lĩnh số nhưng không buông lỏng kỷ luật tổ chức.

Vì vậy, giảng viên quân sự phải thực hiện vai trò của mình trong một cơ chế phối hợp chặt chẽ, đúng chức trách và đúng vị trí. Họ không phải lực lượng chuyên trách về kỹ thuật an ninh mạng, cũng không phải chủ thể xử lý mọi vấn đề nảy sinh trên không gian mạng. Yêu cầu mới đối với họ là phải phát huy đúng chức năng của người thầy quân đội trong mối liên kết với cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, đơn vị quản lý học viên và các lực lượng có liên quan. Chỉ trong cơ chế đó, giảng viên quân sự mới có thể vừa phát huy tính chủ động trong giáo dục, định hướng và phòng ngừa, vừa bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc tổ chức, vừa góp phần thiết thực vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nhà trường quân đội.

3. Nội hàm bản lĩnh của giảng viên quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành địa bàn tác động trực tiếp đến nhận thức chính trị, niềm tin, tâm trạng xã hội và hành vi của cán bộ, học viên trong quân đội, bản lĩnh của giảng viên quân sự không thể chỉ hiểu như phẩm chất kiên định chung chung, mà phải được nhận thức như một chỉnh thể thống nhất giữa bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp sư phạm quân sự và bản lĩnh số. Chỉ khi ba phương diện này gắn kết chặt chẽ với nhau, người giảng viên quân sự mới có thể giữ vững vai trò định hướng, phòng ngừa và giáo dục người học trong môi trường số.

Bản lĩnh nghề nghiệp sư phạm quân sự là khả năng chuyển hóa yêu cầu chính trị thành quá trình huấn luyện, rèn luyện và giáo dục người học. Điểm đặc thù của giảng viên quân sự không nằm ở chỗ trực tiếp tham gia tranh luận trên không gian mạng, mà ở năng lực đưa tinh thần chính trị, kỷ luật quân đội, phương pháp tư duy quân sự, ý thức trách nhiệm và chuẩn mực hành động vào chính quá trình giảng dạy, huấn luyện. Một giảng viên có bản lĩnh không chỉ dạy đúng nội dung, thao tác, điều lệnh, mà còn làm cho học viên hiểu vì sao phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật, vì sao phải cảnh giác trước thông tin xấu, độc, vì sao bản lĩnh nghề nghiệp quân sự luôn gắn với bản lĩnh chính trị. Do đó, nội hàm bản lĩnh ở đây phải được hiểu như năng lực giáo dục người học bằng chính uy tín nghề nghiệp, bằng tính mô phạm và bằng sức thuyết phục của phương pháp sư phạm quân sự, chứ không phải bằng những lời hô gọi chung chung.

Bản lĩnh số không chỉ là biết sử dụng công nghệ, mà trước hết là biết tiếp cận thông tin một cách tỉnh táo, biết kiểm chứng, sàng lọc, phân tích và đánh giá thông tin liên quan đến quân sự, quốc phòng, an ninh; không bị cuốn theo hiệu ứng đám đông, không phản ứng theo cảm xúc tức thời, không phát ngôn tùy tiện về các vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Đồng thời, bản lĩnh số còn thể hiện ở chỗ người giảng viên biết giữ đúng giới hạn trách nhiệm, đúng thẩm quyền, đúng quy định bảo mật, đúng tư cách của người thầy quân đội khi hiện diện trên không gian mạng. Cách hiểu này phù hợp với định hướng của Đại hội XIV khi đặt yêu cầu “quản lý có hiệu quả an ninh mạng” (5); bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh văn hóa  -  tư tưởng, an ninh kinh tế - tài chính, an ninh mạng  - dữ liệu (6) trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Từ ba phương diện trên có thể khẳng định: bản lĩnh của giảng viên quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng không phải là một phẩm chất tĩnh, càng không phải là khẩu hiệu chính trị chung chung, mà là năng lực tổng hợp được kết tinh từ sự vững vàng về lập trường, sự mẫu mực về nghề nghiệp và sự chuẩn xác trong hành vi số. Nếu thiếu bản lĩnh chính trị, người giảng viên sẽ mất phương hướng; nếu thiếu bản lĩnh nghề nghiệp, họ không thể chuyển hóa nhận thức thành tác động giáo dục; nếu thiếu bản lĩnh số, họ khó giữ được vai trò nêu gương và định hướng trong môi trường thông tin đầy biến động hiện nay. Chính vì vậy, làm rõ đúng nội hàm bản lĩnh không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn là tiền đề trực tiếp để nhận diện đúng hạn chế và đề xuất đúng giải pháp trong các phần tiếp theo.

4. Giải pháp phát huy vai trò của giảng viên quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức và chuẩn hóa rõ vị trí, giới hạn trách nhiệm của giảng viên quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Đây là giải pháp có tính mở đường. Nếu chưa xác định đúng vai trò thì mọi khâu bồi dưỡng, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả đều dễ chệch hướng. Trọng tâm của giải pháp này không chỉ là quán triệt về mặt nhận thức, mà phải chuyển thành quy định, hướng dẫn và tiêu chí công việc rõ ràng. Cần làm rõ giảng viên quân sự tham gia nhiệm vụ này trước hết bằng chính hoạt động dạy học, huấn luyện, rèn luyện tác phong, xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, định hướng phương pháp nhận thức và giáo dục phòng ngừa cho học viên; không giao khoán cho họ những nhiệm vụ vượt quá chức trách, nhưng cũng không thu hẹp vai trò của họ vào truyền đạt chuyên môn đơn thuần. Khi vị trí được chuẩn hóa rõ, đội ngũ này mới có cơ sở để hành động đúng, cấp ủy và chỉ huy mới có cơ sở để giao việc đúng, còn cơ quan chức năng mới có căn cứ để bồi dưỡng và kiểm tra đúng trọng tâm.

Thứ hai, phải đổi mới thực chất nội dung và phương pháp giảng dạy các môn quân sự theo hướng tích hợp giáo dục bản lĩnh, kỷ luật nhận thức và năng lực phòng ngừa trên không gian mạng.

Đây là giải pháp trung tâm vì nó tác động trực tiếp vào hoạt động nghề nghiệp hằng ngày của giảng viên quân sự. Điều cần làm không phải là thêm vào bài giảng những lời cảnh báo chung chung về thông tin xấu, độc, mà là thiết kế lại cách dạy để từ nội dung quân sự có thể dẫn người học tới nhận thức đúng về trách nhiệm, kỷ luật, cảnh giác, phương pháp kiểm chứng và cách phản ứng đúng trước thông tin sai trái. Mỗi học phần, mỗi bài giảng, mỗi giờ huấn luyện cần được rà soát để xác định những điểm có thể lồng ghép giáo dục phòng ngừa một cách tự nhiên, không gượng ép. Cùng với đó, cần xây dựng ngân hàng tình huống sư phạm gắn với các biểu hiện xuyên tạc về quân đội, về nhiệm vụ quốc phòng, về hình ảnh người quân nhân cách mạng trên không gian mạng để giảng viên khai thác trong thảo luận, xử trí tình huống, luyện tập tư duy và giáo dục thái độ. Khi làm được điều này, bài giảng quân sự mới không chỉ truyền đạt kiến thức và thao tác, mà còn thực sự trở thành môi trường rèn bản lĩnh cho người học.

Thứ ba, phải bồi dưỡng bản lĩnh số cho giảng viên quân sự theo hướng gắn chặt kỹ năng công nghệ với kỷ luật phát ngôn, kỷ luật bảo mật và phương pháp xử lý thông tin.

Việc bồi dưỡng không nên dừng ở hướng dẫn sử dụng nền tảng số hay công cụ hỗ trợ dạy học, mà cần tập trung vào những năng lực trực tiếp liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nhà trường quân đội: nhận diện thủ đoạn cắt ghép, xuyên tạc, dẫn dắt sai lệch; kỹ năng kiểm chứng và sàng lọc thông tin; cách ứng xử đúng thẩm quyền trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; khả năng giữ gìn hình ảnh, uy tín và tư cách của người thầy quân đội trên môi trường số. Quan trọng hơn, bồi dưỡng bản lĩnh số phải đi theo hướng huấn luyện tình huống, chứ không chỉ phổ biến quy định. Chỉ khi được đặt trong các tình huống cụ thể, người giảng viên mới hình thành được phản xạ nghề nghiệp và phản xạ chính trị đúng trên không gian mạng.

Thứ tư, phải thiết lập cơ chế phối hợp sư phạm - chính trị - quản lý đủ chặt để biến yêu cầu thành sức mạnh tổ chức. Một mình giảng viên quân sự không thể gánh vác trọn vẹn nhiệm vụ này.

Nếu thiếu sự liên kết với cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, đơn vị quản lý học viên và lực lượng chuyên trách, mọi nỗ lực đổi mới của giảng viên rất dễ rơi vào tình trạng đơn lẻ, manh mún và thiếu chiều sâu. Vì vậy, cần xây dựng quy chế phối hợp rõ theo từng khâu: trao đổi thông tin về diễn biến tư tưởng của học viên; cung cấp tình huống, tài liệu, chủ đề cần lồng ghép vào giảng dạy; hỗ trợ xử lý những vấn đề vượt quá thẩm quyền của giảng viên; tổ chức sơ kết, rút kinh nghiệm định kỳ. Cơ chế phối hợp ấy phải làm cho giảng viên quân sự không đứng ngoài trận địa tư tưởng, nhưng cũng không bị đặt vào vị trí thay thế các lực lượng chuyên trách.

Kết luận

Không gian mạng đang trở thành một mặt trận tư tưởng đặc biệt nhạy cảm đối với nhà trường quân đội. Trong điều kiện đó, giảng viên quân sự không chỉ là người truyền thụ tri thức và rèn luyện kỹ năng, mà còn là chủ thể trực tiếp góp phần xây dựng kỷ luật nhận thức, bản lĩnh nghề nghiệp và sức đề kháng chính trị cho học viên. Vì vậy, phát huy vai trò của đội ngũ này trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là phát huy sức mạnh giáo dục phòng ngừa ngay từ giảng đường. Khi giảng viên quân sự vững về lập trường, chuẩn về nghề nghiệp, nghiêm về kỷ luật số và được đặt trong cơ chế tổ chức đồng bộ, họ sẽ trở thành một lực lượng quan trọng giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong nhà trường quân đội.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1), (2), Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.1, 2.

(3), (4). (5), (6), ĐCSVN: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, 2026, Hà Nội, tr.131, 113. 131, 131.

 

 

THE POLITICAL RESOLUTENESS OF MILITARY INSTRUCTORS IN PROTECTING THE IDEOLOGICAL FOUNDATION OF THE PARTY IN CYBERSPACE TODAY

 

Dinh Xuan Thuy
Faculty of General Military Education, College of Defense Industry

Abstract:
Cyberspace is directly affecting the political awareness, beliefs, and behavior of cadres and cadets in military schools. Therefore, protecting the ideological foundation of the Party is not only the responsibility of political agencies or lecturers in social sciences and humanities, but also the direct duty of military instructors through teaching, training, and fostering military discipline and style among cadets. Based on the implementation of Resolution No. 35-NQ/TW and Resolution No. 57-NQ/TW, this article clarifies the role and new requirements for military instructors, identifies current limitations, and proposes several solutions to enhance their role in protecting the Party’s ideological foundation from classrooms to cyberspace.

Keywords: Military instructors; Cyberspace; Protection of the Party’s ideological foundation; Political resoluteness.

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).