1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

80 NĂM NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM – THÀNH TỰU, KINH NGHIỆM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

01:48 | 02/08/2025
aA

80 NĂM NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM – THÀNH TỰU, KINH NGHIỆM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 

PGS.TS. Tô Bá Trượng

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

 

1. Đặt vấn đề

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, giáo dục luôn giữ một vị trí then chốt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên, chỉ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, một nền giáo dục mới – nền giáo dục cách mạng Việt Nam mới chính thức được khai sinh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nền giáo dục lần đầu tiên khẳng định rõ triết lý: “học để làm người, làm công dân tốt, để phục vụ Tổ quốc và nhân dân”.

Ngay từ những ngày đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò sống còn của giáo dục. Trong bài phát biểu tại lễ khai mạc lớp học bình dân học vụ (năm 1945), Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi thiết tha kêu gọi đồng bào ta phải ra sức học tập, học để tiến bộ, học để thoát khỏi cảnh nghèo nàn và lạc hậu”.

Người cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến thế hệ học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước, trong bức thư lịch sử gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 9 năm 1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Trải qua 80 năm đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nền giáo dục Việt Nam đã từng bước lớn mạnh, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang trong công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục không chỉ là công cụ truyền bá tri thức mà còn là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (năm 2013), Đảng ta đã xác định rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Phát triển giáo dục là sự nghiệp trồng người cao cả, lâu dài, là nền tảng, động lực phát triển bền vững đất nước.” (Nghị quyết số 29-NQ/TW).

Bước vào thế kỷ XXI, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giáo dục Việt Nam đứng trước cả cơ hội vàng và thách thức mới. Những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thích ứng, tư duy đổi mới, sáng tạo, năng lực hội nhập đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với mỗi cấp học, mỗi ngành đào tạo và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.

Xuất phát từ nhận thức đó, bài viết này tập trung làm rõ các chặng đường phát triển lớn của nền giáo dục cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua (1945–2025), phân tích những thành tựu nổi bật, đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc, và đề xuất định hướng chiến lược để phát triển giáo dục một cách bền vững, toàn diện và hiện đại trong kỷ nguyên phát triển vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.

2. Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX và các phong trào canh tân đất nước

- Việt Nam đầu thế kỷ XX chịu ách đô hộ của thực dân Pháp, xã hội phong kiến thì suy tàn, nền kinh tế lạc hậu, đời sống nhân dân khổ cực, văn hóa – giáo dục bị kìm hãm. Chế độ giáo dục Nho học lỗi thời dần suy yếu, trong khi giáo dục Pháp – Việt thì mang tính thực dân, nhằm đào tạo tay sai phục vụ chính quyền thuộc địa.

- Phong trào Duy Tân (1905–1908), do cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà trí thức yêu nước khởi xướng, phong trào Duy Tân kêu gọi canh tân đất nước, học tập Nhật Bản và phương Tây. Trong lĩnh vực giáo dục, phong trào nhấn mạnh khai dân trí, nâng cao nhận thức cho người dân, mở trường học mới, dạy quốc ngữ, dạy khoa học thực hành, bài trừ hủ tục, chủ trương thay thế tư tưởng trung quân bằng tư tưởng yêu nước.

- Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), là một trong những dấu mốc quan trọng trong lịch sử giáo dục Việt Nam hiện đại. Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương giáo dục khai sáng, hướng tới dân chủ, khoa học, bình đẳng, dạy quốc ngữ, lịch sử, địa lý, khoa học tự nhiên, thương mại, kinh tế,...đồng thin ấn, phát hành sách báo để truyền bá tư tưởng yêu nước và cải cách.

Dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn (1907–1908), nhưng đã để lại dấu ấn rất lớn trong việc hình thành một mô hình giáo dục mới, mang tinh thần dân tộc, khai phóng.

Tác động của các phong trào trên đến sự ra đời của nền giáo dục cách mạng từ năm 1945, các phong trào đầu thế kỷ XX đã phê phán mạnh mẽ chế độ giáo dục phong kiến, mở đường cho tư tưởng giáo dục gắn với thực tiễn, dân tộc, khoa học, học để phục vụ đất nước, chứ không chỉ để “vinh thân phì gia”, tạo nền móng cho giáo dục quốc dân, dù bị đàn áp, nhưng các phong trào như Duy Tân hay Đông Kinh Nghĩa Thục đặt nền móng cho sự hình thành mô hình giáo dục quốc dân sau này, học để làm người công dân có trách nhiệm, phổ cập quốc ngữ, xoá mù chữ, xây dựng nền giáo dục cho mọi tầng lớp, nhất là nhân dân lao động.Các phong trào đó đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bức thư gửi học sinh ngày khai trường đầu tiên (tháng 9/1945), đã tiếp nối tư tưởng “khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh”. Nền giáo dục cách mạng từ 1945 đã thể hiện rõ tính dân tộc (chống thực dân, bảo tồn văn hóa), tính khoa học (chống mê tín, học tập khoa học tự nhiên – xã hội), tính đại chúng (mọi người đều có quyền học, không phân biệt giai cấp, giới tính).

Như vậy, các phong trào đầu thế kỷ XX như Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục tuy thất bại về mặt tổ chức, nhưng đã gieo mầm tri thức, khơi dậy khát vọng độc lập, khai sáng, canh tân dân tộc, định hình tư tưởng và lý tưởng giáo dục mới cho các thế hệ sau. Chính vì vậy, nền giáo dục cách mạng không ra đời một cách ngẫu nhiên, mà là kết tinh của những nỗ lực đấu tranh tư tưởng, văn hóa suốt nhiều thập kỷ trước đó.

3. Các giai đoạn phát triển của nền giáo dục mới

3.1. Giai đoạn 1945–1954: Khai sinh nền giáo dục mới, xóa nạn mù chữ

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, long trọng tuyên bố với toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu bước ngoặt lịch sử to lớn của dân tộc Việt Nam. Như vậy, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc và giáo dục cách mạng.

- Ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, đồng thời xóa bỏ hoàn toàn ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến. Thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất và khát vọng tự chủ của nhân dân Việt Nam sau gần một thế kỷ bị áp bức. Chính thức khai sinh một nhà nước dân chủ – cộng hòa, đặt nền móng pháp lý và chính trị cho sự hình thành của một xã hội mới, xã hội của nhân dân, do nhân dân làm chủ.

- Giá trị tư tưởng và tầm vóc quốc tế. Bản Tuyên ngôn đã viện dẫn các giá trị phổ quát từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789), khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định quyền độc lập của Việt Nam, mà còn đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam lên tầm cao của phong trào nhân quyền, dân chủ toàn cầu.

- Tác động đến sự ra đời của nền giáo dục cách mạng. Bản Tuyên ngôn Độc lập là bước khởi đầu cho việc thiết lập một nền giáo dục mới – nền giáo dục cách mạng, hoàn toàn đối lập với nền giáo dục thực dân, phong kiến trước đó từ "giáo dục phục vụ thực dân" chuyển sang "giáo dục phục vụ nhân dân", xây dựng nền giáo dục dân tộc, khoa học, đại chúng, phát động "chống giặc dốt" ngay sau ngày độc lập. Chỉ 9 ngày sau, ngày 10/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, mở đầu phong trào xóa nạn mù chữ cho toàn dân. từ đây, giáo dục không còn là đặc quyền của tầng lớp trên mà trở thành quyền lợi của mọi người dân Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí – điều kiện tiên quyết cho xây dựng một quốc gia độc lập, văn minh, tiến bộ.

- Kết tinh tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập dân tộc, mà còn ẩn chứa tư tưởng "giáo dục để kiến thiết quốc gia", giải phóng con người cả về thể chất lẫn trí tuệ, xây dựng lớp người công dân mới, có tri thức, đạo đức và tinh thần yêu nước, để gánh vác sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam mới, mà còn là nền tảng tư tưởng và chính trị cho việc thiết kế lại toàn bộ hệ thống giáo dục. Từ đây, giáo dục trở thành một mặt trận hàng đầu, gắn liền với khát vọng dân tộc và công cuộc kiến quốc. Nền giáo dục cách mạng Việt Nam ra đời từ ánh sáng của Bản Tuyên ngôn Độc lập đã, đang và sẽ tiếp tục sứ mệnh cao cả là đào tạo những con người tự do, độc lập, có trách nhiệm với đất nước và thời đại.

Như trên đã nói, chỉ sau 9 ngày đất nước được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ký Sắc lệnh số 17 ngày 8/9/1945, thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động toàn dân "diệt giặc dốt". Với lời kêu gọi giản dị mà đầy tính thức tỉnh:

“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”,
Người đã khơi dậy trong toàn dân một phong trào học chữ mạnh mẽ chưa từng có.

Phong trào Bình dân học vụ phát triển nhanh chóng và rộng khắp. Chỉ trong vòng một năm (1945–1946), đã có hơn 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ, hàng trăm nghìn giáo viên và cán bộ tình nguyện tham gia dạy học trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Các lớp học được tổ chức tại đình làng, nhà dân, thậm chí dưới bóng tre, trong hầm kháng chiến. Câu khẩu hiệu “Ai biết chữ dạy người chưa biết chữ” trở thành phương châm hành động của cả xã hội.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946–1954), mặc dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và chia cắt địa bàn, hệ thống giáo dục cách mạng vẫn được duy trì và phát triển ở vùng tự do và căn cứ địa. Các trường kháng chiến ra đời, dạy học kết hợp với lao động sản xuất và rèn luyện ý chí chiến đấu. Giáo dục trong giai đoạn này không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường và ý chí độc lập dân tộc cho thế hệ trẻ.

Năm 1950, Hội nghị giáo dục toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Việt Bắc đã xác định rõ đường lối giáo dục kháng chiến – kiến quốc, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “đào tạo lớp người mới phục vụ sự nghiệp kháng chiến thắng lợi và kiến thiết nước nhà”.

Đặc biệt, giáo dục trong thời kỳ này đã góp phần quan trọng vào việc tạo nên một nền tảng dân trí mới cho đất nước. Hàng triệu người dân, lần đầu tiên được cầm sách, cầm bút, trở thành lực lượng quan trọng tham gia vào công cuộc kháng chiến và xây dựng chế độ mới.

Có thể nói, giai đoạn 1945–1954 là thời kỳ khai sinh và định hình nền giáo dục cách mạng Việt Nam với ba đặc trưng nổi bật:

Xác lập tư tưởng “giáo dục là quyền của nhân dân”;

Đặt mục tiêu xóa mù chữ và nâng cao dân trí làm nhiệm vụ chiến lược;

Gắn kết chặt chẽ giáo dục với kháng chiến, với dân tộc và nhân dân.

Chính từ nền tảng ấy, giáo dục cách mạng Việt Nam đã bước vào thời kỳ mới với niềm tin, quyết tâm và ý chí độc lập mạnh mẽ, góp phần tạo ra thế hệ công dân mới của nước Việt Nam dân chủ và độc lập.

3.2. Giai đoạn 1954–1975: Giáo dục phát triển trong kháng chiến và xây dựng CNXH ở miền Bắc

Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt đất nước thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau. Trong khi miền Nam tiếp tục bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, thì miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đóng vai trò hậu phương lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tại miền Bắc, Đảng và Nhà nước xác định rõ: giáo dục là một trong những nhiệm vụ chiến lược để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc cải tạo và phát triển đất nước. Hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh từ mẫu giáo, phổ thông, trung học chuyên nghiệp đến đại học. Nhiều chính sách, nghị quyết lớn về giáo dục được ban hành, trong đó đáng chú ý là:

-Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) và đặc biệt là Cải cách giáo dục lần thứ hai (1956–1958) nhằm xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm, thống nhất toàn miền Bắc.

-Triển khai phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, thúc đẩy giáo dục thường xuyên và đào tạo nghề.

-Phát triển mạnh mẽ các trường kỹ thuật, chuyên nghiệp và đại học như: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1956), Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Nông nghiệp, Đại học Y Hà Nội…

Đặc biệt, trong giai đoạn này, hệ thống trường chuyên, lớp chọn được hình thành nhằm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài từ bậc phổ thông – một hướng đi tiên phong mà đến nay vẫn còn giá trị. Việc đào tạo giáo viên được chú trọng với hệ thống các trường sư phạm trung cấp, cao đẳng và đại học trên cả nước.

Ngoài ra, giáo dục trong giai đoạn này còn mang đậm tinh thần "học để phục vụ sản xuất, phục vụ kháng chiến". Phong trào “vừa học, vừa làm”, “ba sẵn sàng” trong thanh niên, “năm tốt” trong học sinh… lan tỏa mạnh mẽ trong học đường, hình thành nên thế hệ thanh niên yêu nước, lý tưởng cách mạng cao cả, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.

Ở miền Nam, trong điều kiện chiến tranh ác liệt và sự đàn áp của chính quyền tay sai, nền giáo dục cách mạng vẫn kiên cường tồn tại và phát triển tại các vùng giải phóng. Các lớp học được mở tại chiến khu, trong rừng, trong hầm bí mật với đội ngũ giáo viên vừa là cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên thanh niên xung phong. Học sinh ở các trường giải phóng được học kiến thức phổ thông cơ bản, đồng thời được giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước và ý chí chiến đấu. Các trường học trong chiến khu như: Trường Thiếu nhi miền Nam, Trường Học sinh miền Nam tập kết ra Bắc, Trường Nguyễn Văn Trỗi, Trường Lê Quý Đôn... là những minh chứng tiêu biểu.

Một số thanh thiếu niên miền Nam tập kết ra Bắc được đào tạo bài bản, sau này trở thành lực lượng trí thức, cán bộ chủ chốt trong thời kỳ thống nhất đất nước. Nền giáo dục cách mạng ở miền Nam trong thời kỳ này thực sự là trường học lớn về lòng yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc và ý chí tự lực tự cường.

Trong giai đoạn 1954–1975, có thể khẳng định: Tại miền Bắc, giáo dục từng bước xây dựng nền móng của một hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa, phục vụ xây dựng đất nước và chi viện cho miền Nam. Tại miền Nam, giáo dục cách mạng trong vùng giải phóng tiếp tục giữ vai trò thức tỉnh tinh thần dân tộc, khơi dậy ý chí học tập và khát vọng tự do, độc lập trong thế hệ trẻ.

Giai đoạn này thể hiện tính hai mặt đặc biệt của giáo dục cách mạng Việt Nam: vừa là công cụ phát triển đất nước ở miền Bắc, vừa là vũ khí tư tưởng - văn hóa trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập cho miền Nam.

3.3. Giai đoạn 1975–1986: Thống nhất hệ thống giáo dục quốc gia.

Ngay sau thống nhất, Chính phủ và Bộ Giáo dục đã ban hành nhiều chủ trương nhằm sát nhập, điều chỉnh, đồng bộ hóa hệ thống giáo dục giữa hai miền Nam – Bắc. Các hoạt động giáo dục ở miền Nam dần chuyển từ hệ thống giáo dục cũ (chịu ảnh hưởng phương Tây) sang hệ thống giáo dục cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chương trình học, sách giáo khoa, phương pháp dạy học được cải tiến thống nhất trên toàn quốc, giáo viên được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng về tư tưởng, nghiệp vụ, chuyên môn.

Một số nhiệm vụ trọng tâm và kết quả nổi bật trong giai đoạn này gồm:

Tập trung khôi phục mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên. Hàng chục nghìn phòng học mới được xây dựng, trường học được tái lập từ cấp mầm non đến đại học.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bổ sung và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đặc biệt tại các tỉnh phía Nam. Hàng loạt lớp bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ sư phạm ngắn hạn và dài hạn được tổ chức khẩn trương.

Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, tiếp tục mở rộng giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và xóa mù chữ. Năm 1979, Việt Nam đã có hơn 14 triệu học sinh phổ thông – con số tăng nhanh đáng kể so với các giai đoạn trước.

Củng cố hệ thống trường sư phạm, trung cấp chuyên nghiệp và đại học, gắn đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Các trường đại học kỹ thuật, y dược, nông nghiệp, sư phạm… tiếp tục được đầu tư, mở rộng.

Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn đầy thử thách và khó khăn. Sau chiến tranh, nền kinh tế đất nước bị kiệt quệ, cơ sở vật chất giáo dục thiếu thốn trầm trọng, nhất là tại miền Nam và nông thôn. Nhiều trường lớp xuống cấp, trang thiết bị dạy học nghèo nàn, sách giáo khoa thiếu, đội ngũ giáo viên còn yếu và thiếu. Thù lao giáo viên thấp, đời sống khó khăn, tâm lý chưa ổn định sau chiến tranh cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý giáo dục theo mô hình tập trung quan liêu, bao cấp còn nhiều ràng buộc, dẫn đến việc dạy – học chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo của giáo viên và học sinh. Chương trình học nặng về lý thuyết, chưa gắn nhiều với thực tiễn sản xuất – đời sống. Tình trạng học vẹt, chạy theo thành tích bắt đầu xuất hiện trong một bộ phận nhà trường.

Dù còn nhiều bất cập, nhưng giai đoạn 1975–1986 là thời kỳ bản lề có ý nghĩa chiến lược:

Thống nhất thành công hệ thống giáo dục quốc dân trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Tạo ra nền tảng thể chế, tổ chức và đội ngũ cho những cuộc cải cách giáo dục lớn sau này.

Khẳng định vai trò của giáo dục trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, nâng cao dân trí, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường để tái thiết đất nước.

Kết thúc giai đoạn này, trong bối cảnh đất nước bước vào công cuộc Đổi mới do Đảng khởi xướng (từ Đại hội VI – năm 1986), nền giáo dục Việt Nam cũng chuẩn bị chuyển mình mạnh mẽ, từng bước đổi mới toàn diện để đáp ứng yêu cầu mới của thời đại.

3.4. Giai đoạn 1986–2020: Đổi mới toàn diện giáo dục.

Năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước với mục tiêu thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh ấy, giáo dục – đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, là một trong ba khâu đột phá chiến lược, giữ vai trò quyết định trong việc phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và năng lực cạnh tranh quốc gia. Những chuyển biến lớn trong giáo dục giai đoạn này trên các mặt sau:

3.4.1. Hoàn thiện thể chế, luật pháp về giáo dục

Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, hệ thống pháp luật về giáo dục Việt Nam từng bước được hoàn thiện nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho phát triển giáo dục toàn diện, hiện đại. Nhiều văn bản pháp lý quan trọng đã được ban hành, nổi bật gồm:

Luật Giáo dục năm 1998, đạo luật nền tảng đầu tiên quy định toàn diện về hệ thống giáo dục quốc dân;

Các luật sửa đổi, bổ sung năm 2005, 2009 và Luật Giáo dục năm 2019, từng bước thể chế hóa các quan điểm mới như: quyền học tập suốt đời, phân luồng học sinh sau trung học, đổi mới quản trị hệ thống, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo;

Luật Giáo dục đại học (2012, sửa đổi 2018), đã tạo cơ sở pháp lý cho tự chủ đại học, thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế;

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, lần đầu tiên thống nhất các loại hình đào tạo trung cấp, cao đẳng vào một hệ thống giáo dục nghề nghiệp hoàn chỉnh, thúc đẩy phân luồng, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Các chiến lược, đề án quan trọng như: Chiến lược phát triển giáo dục 2001–2010, 2011–2020 – xác lập định hướng dài hạn và các mục tiêu phát triển theo từng giai đoạn; Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (2013) – nhấn mạnh vai trò của giáo dục là quốc sách hàng đầu, đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp, quản trị và kiểm định chất lượng; Đề án ngoại ngữ quốc gia, Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, Chương trình giáo dục phổ thông 2018...

Việc ban hành đồng bộ hệ thống pháp luật và chiến lược đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển giáo dục theo hướng hiện đại, mở rộng cơ hội học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

3.4.2. Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp và đánh giá

Từ cuối những năm 1990, chương trình và sách giáo khoa được cải cách nhằm chuyển hướng từ “truyền đạt kiến thức” sang “phát triển năng lực người học”. Cụ thể:

Chương trình 2000 tập trung phân hóa cấp học và tích hợp kiến thức;

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy học sinh làm trung tâm”, vận dụng tích cực công nghệ thông tin, dạy học theo dự án, tăng cường hoạt động trải nghiệm;

Từng bước cải tiến kiểm tra – đánh giá, nhất là kỳ thi THPT quốc gia và tuyển sinh đại học (từ 2015 theo hướng tổ chức kỳ thi chung, kết hợp xét tuyển và thi trực tuyến).

Đặc biệt, Chương trình Giáo dục phổ thông mới (2018) được xem là bước cải cách căn bản, chuyển từ “học gì” sang “học để làm gì”, với mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện cho học sinh, thúc đẩy tính chủ động, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề.

3.4.3. Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng giáo dục các cấp.

Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được mở rộng về quy mô và từng bước nâng cao chất lượng. Những thành tựu nổi bật bao gồm:

Tỷ lệ huy động trẻ đến trường ở các bậc học đều tăng rõ rệt; phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (THCS) được duy trì vững chắc trên phạm vi cả nước; nhiều địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và tiến tới phổ cập THPT ở một số đô thị, vùng có điều kiện phát triển;

Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo – bảo đảm quyền học tập cho mọi người dân; các trường nội trú dân tộc thiểu số, trường phổ thông dân tộc bán trú được tăng cường cả về số lượng và chất lượng;

Chất lượng giáo dục phổ thông từng bước được nâng cao thông qua các cải cách chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học; giáo dục STEM, trải nghiệm sáng tạo, chuyển đổi số trong dạy học được chú trọng;

Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phát triển nhanh chóng, với hàng trăm trường đại học, cao đẳng, trung cấp được thành lập hoặc nâng cấp, trong đó có nhiều cơ sở tư thục, trường quốc tế và cơ sở liên kết với nước ngoài;

Các trường đại học hàng đầu của Việt Nam như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Duy Tân... từng bước vươn ra khu vực và quốc tế, lọt vào các bảng xếp hạng uy tín như QS, THE, URAP; nhiều ngành đào tạo đạt kiểm định theo tiêu chuẩn AUN-QA, ABET, FIBAA…

Giáo dục nghề nghiệp từng bước được chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn với nhu cầu thị trường lao động và xu thế chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp; mô hình đào tạo theo hướng “học đi đôi với hành”, đào tạo kép, liên kết nhà trường – doanh nghiệp được mở rộng;

Giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời được thúc đẩy thông qua mạng lưới trung tâm học tập cộng đồng, trường phổ thông dân lập, cơ sở đào tạo nghề ngắn hạn và học trực tuyến.

Việc mở rộng mạng lưới đi đôi với nâng cao chất lượng, hội nhập quốc tế và phát triển đồng bộ các cấp học đã tạo tiền đề để hệ thống giáo dục Việt Nam thích ứng tốt hơn với yêu cầu đổi mới, góp phần quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.

3.4.4. Xã hội hóa và hội nhập giáo dục

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước xác định xã hội hóa giáo dục là một chủ trương lớn, nhằm huy động toàn xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp giáo dục. Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã mở ra những cơ hội và thách thức mới cho nền giáo dục nước ta.

a) Về xã hội hóa giáo dục:

Nhà nước ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục;

Hệ thống trường tư thục, dân lập, trường có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh mẽ ở cả ba cấp học (mầm non, phổ thông, đại học), góp phần giảm áp lực cho khu vực công lập và nâng cao sự lựa chọn cho người học;

Các tổ chức xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp, cá nhân ngày càng đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ học bổng, cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học và đào tạo nghề;

Sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội ngày càng được coi trọng trong giáo dục đạo đức, kỹ năng sống và hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện.

b) Về hội nhập giáo dục:

Việt Nam tích cực tham gia các tổ chức giáo dục quốc tế như UNESCO, SEAMEO, ASEAN, ASEM Education, góp phần trao đổi thông tin, nâng cao năng lực quản trị và chuẩn hóa giáo dục;

Hợp tác quốc tế trong giáo dục ngày càng mở rộng qua các chương trình: Liên kết đào tạo với các trường đại học danh tiếng trên thế giới; Gửi và tiếp nhận du học sinh; Mời chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu; Triển khai các chương trình đào tạo song bằng, chuẩn quốc tế (IB, Cambridge, v.v.);

Chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa giáo dục của các nước tiên tiến, như phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, giáo dục STEM, công nghệ giáo dục, đánh giá năng lực, và tích hợp linh hoạt vào chương trình giáo dục quốc gia;

Chuẩn hóa trình độ giáo dục theo Khung trình độ quốc gia và tiệm cận với các chuẩn mực khu vực, quốc tế, góp phần tăng tính liên thông, công nhận bằng cấp và năng lực lao động trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Nhờ những nỗ lực xã hội hóa và hội nhập, giáo dục Việt Nam không chỉ trở nên đa dạng về mô hình, linh hoạt về phương thức mà còn từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường vị thế quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

3.4.5. Thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong giáo dục

Cuối giai đoạn này, đặc biệt từ năm 2015 trở đi, ngành giáo dục từng bước thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, nền tảng học trực tuyến, sách giáo khoa điện tử… Đại dịch COVID-19 (2020) là cú huých thúc đẩy toàn hệ thống chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến quy mô toàn quốc, mở ra cơ hội mới cho chuyển đổi số giáo dục.

Đánh giá tổng quát giai đoạn 1986–2020, đây là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ nhất của nền giáo dục Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám. Từ một nền giáo dục trong bao cấp, với cách dạy học truyền thống, giáo dục Việt Nam đã từng bước:

Xác lập được hệ thống pháp lý đồng bộ;

Cải tiến chương trình, phương pháp dạy – học theo xu hướng hiện đại;

Nâng cao dân trí, phổ cập giáo dục toàn dân;

Mở rộng tiếp cận giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp;

Từng bước tiếp cận chuẩn khu vực và quốc tế, tạo tiền đề cho quá trình hội nhập và chuyển đổi số trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy còn nhiều hạn chế về chất lượng, phân luồng, khoảng cách vùng miền, nhưng rõ ràng, giai đoạn 1986–2020 đã đặt nền móng vững chắc cho bước nhảy vọt của giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa.

3.5. Từ 2020 đến nay: Giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập

3.5.1. Chuyển đổi số – xu thế không thể đảo ngược

Từ năm 2020, chuyển đổi số trở thành động lực chiến lược trong cải cách giáo dục. Ngành giáo dục triển khai nhiều chương trình, đề án nhằm:

Ứng dụng công nghệ số vào quản lý và dạy học, xây dựng kho học liệu số, nền tảng LMS (quản lý học tập), sổ điểm điện tử, học bạ số;

Triển khai mô hình “trường học thông minh – lớp học thông minh”, đẩy mạnh sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) trong giảng dạy và đánh giá;

Phát triển chương trình đào tạo kỹ năng số, tư duy số, an ninh mạng, công dân số cho học sinh – sinh viên các cấp học.

Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà còn là sự thay đổi mô hình tổ chức giáo dục, phương pháp dạy học, cách đánh giá và văn hóa học tập suốt đời.

3.5.2. Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Từ năm học 2020–2021, Chương trình Giáo dục phổ thông mới (ban hành năm 2018) chính thức được triển khai theo hình thức cuốn chiếu từ lớp 1 lên đến lớp 12. Đây là bước cải cách căn bản về mục tiêu, nội dung, phương pháp và đánh giá, với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh như:

Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm;

Năng lực tự chủ, giao tiếp, hợp tác, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề...

Chương trình mới cũng chú trọng đổi mới giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm, dạy học tích hợp – phân hóa, giáo dục STEM, giáo dục hướng nghiệp và phát triển năng lực công dân toàn cầu.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, vẫn còn nhiều thách thức như sự chưa đồng bộ về đội ngũ, cơ sở vật chất, tài liệu dạy học; áp lực đổi mới kiểm tra, đánh giá; sự chênh lệch giữa các vùng, miền; tâm lý e ngại của một bộ phận giáo viên và phụ huynh…

3.5.3. Đại dịch COVID-19 – cú huých cho đổi mới giáo dục.

Đại dịch COVID-19 (2020–2022) là một phép thử lớn đối với nền giáo dục Việt Nam. Trong điều kiện giãn cách xã hội, ngành giáo dục đã:

Chuyển đổi quy mô lớn sang dạy học trực tuyến chỉ trong thời gian ngắn;

Xây dựng hệ thống học liệu số miễn phí, nền tảng dạy học (Zoom, Teams, Google Classroom, K12Online...);

Tổ chức thi tốt nghiệp THPT trong điều kiện khẩn cấp nhưng vẫn đảm bảo công bằng, an toàn, linh hoạt;

Củng cố năng lực tự học, tự quản, học qua mạng của học sinh – sinh viên và nâng cao năng lực số cho giáo viên.

Đại dịch đã để lại những bài học lớn về tính thích ứng, khả năng linh hoạt, vai trò của công nghệ và sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục. Đồng thời, nó mở ra một giai đoạn phát triển giáo dục theo hướng kết hợp linh hoạt giữa trực tiếp và trực tuyến (blended learning), tạo điều kiện để tiếp tục hiện đại hóa nền giáo dục quốc gia.

3.5.4. Giáo dục Việt Nam trước cơ hội hội nhập và bứt phá.

Trong giai đoạn này, giáo dục Việt Nam ngày càng chủ động hội nhập quốc tế:

Tham gia các tổ chức, hiệp định giáo dục trong ASEAN, UNESCO, APEC;

Ký kết thỏa thuận công nhận văn bằng, chương trình chuyển tiếp, liên kết đào tạo;

Đưa nhiều cơ sở giáo dục đại học vào bảng xếp hạng khu vực và toàn cầu.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực triển khai các chuẩn đầu ra, khung trình độ quốc gia, đổi mới kiểm định chất lượng và tăng cường tự chủ giáo dục đại học.

Đặc biệt, giáo dục Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận với thành tích học sinh đạt giải cao tại các kỳ thi Olympic khu vực và thế giới, tỷ lệ phổ cập giáo dục cao, nỗ lực cải thiện vị trí trong các bảng xếp hạng PISA, THE, QS…

Giai đoạn từ năm 2020 đến nay là thời kỳ chuyển đổi mang tính chất bước ngoặt của nền giáo dục Việt Nam:

Chuyển mạnh từ giáo dục truyền thống sang giáo dục linh hoạt, mở và số hóa;

Triển khai đồng bộ Chương trình giáo dục phổ thông mới – trọng tâm cải cách lâu dài;

Khơi dậy động lực hội nhập quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và khát vọng Việt Nam hùng cường vào năm 2045.

Tuy nhiên, giai đoạn này cũng đặt ra những yêu cầu rất cao về năng lực quản trị nhà trường, chất lượng đội ngũ, năng lực số toàn dân, công bằng giáo dục giữa các vùng miền, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá, chiến lược và tầm nhìn dài hạn.

4. Những thành tựu nổi bật của nền giáo dục cách mạng Việt Nam (1945 – 2025)

4.1. Phát triển toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân

Ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xác định rõ vai trò đặc biệt của giáo dục đối với sự phát triển quốc gia. Hệ thống giáo dục quốc dân từng bước được hình thành, củng cố và mở rộng, hướng tới sự hoàn thiện cả về quy mô lẫn cơ cấu.

Giáo dục mầm non, từ hình thức chăm sóc sơ khai ban đầu đã phát triển thành một bậc học nền tảng, được quan tâm đầu tư cả về chương trình, đội ngũ và cơ sở vật chất.

Giáo dục phổ thông, từ hệ thống sơ khai năm 1945, đến nay đã hình thành mô hình 12 năm học với nhiều cải tiến nội dung và phương pháp, đặc biệt là việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới từ năm 2018.

Giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, được chú trọng nhằm nâng cao kỹ năng lao động, đáp ứng nhu cầu thị trường và học tập suốt đời.

Giáo dục đại học và sau đại học, mở rộng mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng, từng bước hội nhập quốc tế. Nhiều trường đại học Việt Nam đã có mặt trong các bảng xếp hạng khu vực và thế giới.

Giáo dục đặc biệt, giáo dục hòa nhập, ngày càng được quan tâm, đảm bảo quyền học tập cho mọi đối tượng, nhất là trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

4.2. Xóa mù chữ và phổ cập giáo dục – một thành tựu mang tính lịch sử

Một trong những thắng lợi quan trọng và sớm nhất của nền giáo dục cách mạng là phong trào xóa nạn mù chữ. Ngay trong những ngày đầu độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động “diệt giặc dốt”, xem đó là một trong ba kẻ thù lớn cùng với giặc đói và giặc ngoại xâm.

Giai đoạn 1945–1954: hàng triệu người lớn được xóa mù chữ thông qua phong trào "Bình dân học vụ".

Từ 1975 đến nay, Việt Nam đạt được các mốc lớn như phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, tiến tới phổ cập trung học phổ thông tại nhiều địa phương.

Đến năm 2020, Việt Nam đã được UNESCO ghi nhận là một trong những nước thành công nhất trong việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục ở khu vực đang phát triển.

4.3. Nâng cao chất lượng giáo dục – Chuyển từ “học để biết” sang “học để làm, học để chung sống, học để làm người”

Chất lượng giáo dục ngày càng được chú trọng, với nhiều dấu ấn rõ nét:

Đổi mới chương trình và phương pháp dạy học, từ giáo dục nhồi nhét chuyển sang phát triển phẩm chất và năng lực người học (điển hình là Chương trình GDPT 2018).

Tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, đặc biệt là trong và sau đại dịch COVID-19.

Kết quả học sinh Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế (PISA, TIMSS,...) ngày càng cao, chứng minh sự tiến bộ vượt bậc về chất lượng giáo dục phổ thông.

Phát triển hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, từng bước chuẩn hóa các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế.

4.4. Bảo đảm quyền học tập bình đẳng cho mọi người, không để ai bị bỏ lại phía sau

Một điểm nổi bật trong chính sách giáo dục cách mạng Việt Nam là tính nhân văn và bao trùm:

Chăm lo giáo dục cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua mạng lưới trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, chính sách hỗ trợ miễn, giảm học phí, cấp học bổng, gạo cho học sinh, đưa giáo viên cắm bản, phát triển tài liệu dạy học theo vùng miền.

Bình đẳng giới trong giáo dục được cải thiện rõ rệt: tỷ lệ nữ sinh trong các bậc học từ tiểu học đến đại học đều tăng, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử.

Giáo dục cho người khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được lồng ghép vào hệ thống giáo dục quốc dân.

4.5. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được chuẩn hóa, nâng cao

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đã có những bước phát triển rõ rệt:

Hầu hết giáo viên các cấp đã được chuẩn hóa trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục 2019;

Công tác bồi dưỡng thường xuyên, nâng chuẩn năng lực nghề nghiệp, năng lực số và đổi mới sáng tạo được chú trọng;

Một bộ phận giáo viên trẻ, tâm huyết, sáng tạo đang góp phần làm mới diện mạo giáo dục, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

4.6. Đẩy mạnh xã hội hóa và hội nhập quốc tế

Việt Nam đã chủ động mở rộng quan hệ hợp tác và giao lưu giáo dục với các nước trong khu vực và thế giới:

Mạng lưới các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển, góp phần giảm tải cho giáo dục công lập và tạo thêm lựa chọn cho người học;

Liên kết đào tạo quốc tế, chuyển giao công nghệ giáo dục, chương trình song bằng, học bổng du học... được mở rộng;

Nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đã lọt vào bảng xếp hạng các đại học hàng đầu châu Á (QS Asia, THE, Webometrics...);

Việt Nam tham gia các chương trình, tổ chức quốc tế như UNESCO, ASEAN, SEAMEO, AUN, APEC... thúc đẩy sự công nhận văn bằng, chuyển tiếp tín chỉ và di chuyển nhân lực trong khu vực.

Như vậy, Từ một đất nước với hơn 90% dân số mù chữ năm 1945, sau 80 năm, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục phát triển toàn diện, chất lượng ngày càng nâng cao, mang tính nhân văn sâu sắc và hướng tới sự công bằng, bao trùm. Những thành tựu này là kết quả của tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự đồng hành của toàn xã hội, và khát vọng vươn lên của cả dân tộc.

Các thành tựu nêu trên không chỉ khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển giáo dục cách mạng Việt Nam mà còn thể hiện nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân và toàn ngành giáo dục trong suốt hành trình 80 năm. Những thành tựu này chính là nền tảng quan trọng để giáo dục Việt Nam tiếp tục đổi mới, phát triển đột phá trong kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu.

5. Những bài học kinh nghiệm

Trải qua tám thập niên đầy biến động và đổi mới, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã tích lũy được nhiều bài học quý báu mang tính chiến lược, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là hành trang quan trọng cho sự nghiệp đổi mới giáo dục trong thời đại hiện nay và tương lai.

- Kiên định quan điểm: Giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Một trong những bài học xuyên suốt là sự nhất quán trong quan điểm coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của phát triển quốc gia. Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người", đến các nghị quyết Trung ương và chính sách pháp luật, giáo dục luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước.

Giáo dục không chỉ là công cụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, mà còn là trụ cột văn hóa – xã hội quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

- Xây dựng nền giáo dục mang bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại.

Một bài học sâu sắc khác là: nền giáo dục Việt Nam phải bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, nhân văn, hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc, đồng thời phải mở cửa hội nhập, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của nền giáo dục thế giới.

Sự kết hợp hài hòa giữa bản sắc và hiện đại, giữa truyền thống và đổi mới, giữa giá trị dân tộc và xu thế toàn cầu là yếu tố giúp giáo dục Việt Nam giữ được tính độc lập, tự chủ, đồng thời nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh quốc tế.

- Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với giáo dục.

Thành tựu giáo dục trong 80 năm qua là kết quả của sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị: Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cùng với sự đồng hành tích cực của mỗi gia đình, mỗi công dân.

Việc phát huy tam giác giáo dục "Nhà trường – Gia đình – Xã hội" đã tạo nên sức mạnh cộng đồng trong việc duy trì phổ cập, nâng cao chất lượng giáo dục và bồi dưỡng thế hệ trẻ.

- Phải gắn đổi mới giáo dục với thực tiễn đất nước và thời đại

Bài học sâu sắc từ các giai đoạn cải cách giáo dục cho thấy: mọi đổi mới phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, từ đặc điểm văn hóa – con người Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thời đại số, toàn cầu hóa và phát triển bền vững.

Cải cách giáo dục không thể làm theo phong trào, cũng không thể rập khuôn theo mô hình bên ngoài, mà phải có tầm nhìn dài hạn, có sự tham gia rộng rãi của nhà khoa học, nhà giáo và cộng đồng.

- Xây dựng đội ngũ nhà giáo vững mạnh là then chốt của mọi đổi mới giáo dục.

Giáo viên chính là lực lượng trực tiếp thực hiện các chủ trương, chương trình đổi mới. Vì vậy, một trong những bài học quan trọng là: phải luôn chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý có tâm – tầm – tài, được bồi dưỡng thường xuyên, đãi ngộ hợp lý và có môi trường phát triển nghề nghiệp bền vững.

Không có đội ngũ nhà giáo mạnh, không thể có giáo dục mạnh.

6. Định hướng phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường vào năm 2045, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước những cơ hội vàng, đồng thời cũng đối mặt với nhiều thách thức phức tạp. Để phát huy những thành tựu 80 năm qua và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, giáo dục Việt Nam cần kiên định các định hướng chiến lược sau:

- Phát triển giáo dục toàn diện, nhân bản, lấy người học làm trung tâm.

Giáo dục trong thời đại mới cần được định hình lại theo hướng:

Phát triển toàn diện nhân cách, phẩm chất và năng lực người học;

Tôn trọng tính cá biệt và sự đa dạng của người học, tạo điều kiện để mỗi người phát triển tối đa tiềm năng của mình;

Khơi dậy năng lực tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác, năng lực tự học, tự chủ – những kỹ năng thiết yếu của công dân toàn cầu trong thế kỷ XXI.

Chuyển từ giáo dục truyền đạt sang giáo dục khơi mở; từ đánh giá điểm số sang đánh giá sự tiến bộ và phát triển bền vững.

- Đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong giáo dục

Chuyển đổi số không chỉ là một xu thế, mà là đột phá chiến lược của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn tới. Cần:

Phát triển hạ tầng số, kho học liệu mở, nền tảng dạy học trực tuyến hiện đại;

Nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý;

Tích hợp công nghệ mới (AI, dữ liệu lớn, thực tế ảo, mô phỏng…) vào chương trình dạy học, kiểm tra đánh giá;

Tăng cường nghiên cứu – phát triển giáo dục sáng tạo, khởi nghiệp, STEM/STEAM trong nhà trường.

Giáo dục cần trở thành môi trường khơi dậy đổi mới, là "bệ phóng" cho các ý tưởng sáng tạo của thế hệ trẻ.

- Tăng cường hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục Việt Nam cần:

Chủ động tham gia mạng lưới giáo dục quốc tế, công nhận văn bằng, trao đổi giáo viên – học sinh – sinh viên;

Tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của thế giới về nội dung, phương pháp, quản lý, kiểm định chất lượng;

Đồng thời, cần giữ gìn và lan tỏa giá trị văn hóa – lịch sử – đạo lý dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự tôn và ý chí phát triển đất nước từ thế hệ học sinh hôm nay.

Giáo dục hội nhập không đồng nghĩa với sao chép, mà là sáng tạo trong tiếp biến, đổi mới từ nền tảng văn hóa dân tộc.

- Xây dựng nền giáo dục học tập suốt đời, công bằng và bao trùm

Giáo dục trong kỷ nguyên mới không dừng lại ở tuổi đi học, mà trở thành quá trình học tập suốt đời cho mọi người:

Phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên, giáo dục mở và linh hoạt, phù hợp với mọi lứa tuổi, đặc biệt là người lớn, người lao động, người yếu thế;

Bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng, không ai bị bỏ lại phía sau, thu hẹp khoảng cách vùng miền, giới, dân tộc;

Xây dựng xã hội học tập, cộng đồng học tập, công dân học tập – nơi mọi người đều có cơ hội được học tập, phát triển và cống hiến.

Những định hướng nêu trên không chỉ là mục tiêu chiến lược của ngành giáo dục, mà còn là cam kết với tương lai dân tộc Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ, giáo dục cần là nền tảng của đổi mới sáng tạo, là động lực cho tăng trưởng bền vững, là sức mạnh mềm của quốc gia.

7. Kết luận

Trải qua 80 năm hình thành và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, đóng vai trò then chốt trong công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển con người và phát triển đất nước. Từ những lớp bình dân học vụ đơn sơ đầu tiên năm 1945 đến hệ thống giáo dục toàn diện, đa dạng, hội nhập và chuyển đổi số hôm nay là một hành trình đầy gian khổ nhưng rất đỗi tự hào.

Những thành tựu nổi bật như phổ cập giáo dục toàn dân, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã khẳng định vai trò nền tảng và động lực của giáo dục đối với sự nghiệp phát triển bền vững quốc gia. Bên cạnh đó, những bài học quý báu về giữ vững định hướng dân tộc – hiện đại, phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp giáo dục, kiên trì đổi mới sáng tạo đã trở thành tài sản chiến lược cho tương lai.

Bước vào kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu sâu rộng, nền giáo dục Việt Nam đứng trước thời cơ lớn để bứt phá. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới toàn diện và sâu sắc theo hướng: phát triển phẩm chất và năng lực người học, chuyển đổi số mạnh mẽ, xây dựng xã hội học tập, giữ vững bản sắc dân tộc, đồng thời chủ động hội nhập và sáng tạo không ngừng.

Kỷ niệm 80 năm nền giáo dục cách mạng không chỉ là dịp để ôn lại quá khứ vẻ vang, mà quan trọng hơn, là để hun đúc thêm niềm tin, ý chí và quyết tâm đổi mới – phát triển giáo dục vì một Việt Nam hùng cường, văn minh, hạnh phúc trong tương lai không xa.

-----------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2023), 80 năm xây dựng và phát triển nền giáo dục cách mạng Việt Nam (1945–2025), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011–2020.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Chương trình chuyển đổi số ngành giáo dục đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

5. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2019), Luật Giáo dục năm 2019, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

6. Hồ Chí Minh (1945), Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 4.

7. Tổng cục Thống kê (2023), Niên giám thống kê Việt Nam năm 2022, NXB Thống kê.

8. UNESCO Institute for Statistics (UIS) (2021), Education in Vietnam: Achievements and Challenges in the Digital Era, Paris.

9. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên, 2019), Giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018, NXB Giáo dục Việt Nam.

10. Nguyễn Kế Hào (2020), Giáo dục Việt Nam – những vấn đề cần đổi mới căn bản và toàn diện, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG THEO TINH THẦN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
Nguyễn Ngọc Huy Văn phòng, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng Email: [email protected] Tóm tắt: Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, niềm tin của Nhân dân và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; chủ động phát hiện, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong phòng, chống suy thoái; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm nêu gương trong giai đoạn hiện nay. Từ khóa: nêu gương; người đứng đầu; suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; xây dựng Đảng; Văn kiện Đại hội XIV.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).