1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

 “HỌC TẬP CỦA NGƯỜI LỚN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN”: MỘT CUỐN SÁCH GIÚP NGƯỜI ĐỌC HIỂU SÂU, LÀM ĐÚNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC NGƯỜI LỚN

08:44 | 14/05/2026
aA

 

 

 

                                 TS.GVCC. Nguyễn Thị Quế Anh

                          Học viện Chính trị khu vực I

 

              Tác giả - PGS, TS Tô Bá Trượng tặng cuốn sách “Học tập của người lớn trong kỷ nguyên số - từ lý luận đến thực tiễn” cho tôi ngay sau khi sách được xuất bản. Đồng cảm với tấm lòng và tâm huyết của ông - người thầy, người anh đồng hương tỉnh Hưng Yên, người đồng nghiệp hơn tôi 25 năm tuổi đời, tuổi nghề khi ông chia sẻ về học tập của người lớn (HTCNL), về học tập suốt đời (HTSĐ). Ông học Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1971. Năm 1975, ông đã là thầy giảng dạy ở Đại học Sư phạm, sau khi đã vào bộ đội, binh chủng Dù năm 1963, và kinh qua binh chủng Đặc công năm 1965. Ông trải qua cuộc đời “Anh Bộ đội Cụ Hồ” trong kháng chiến chống Mỹ, rồi trở thành nhà giáo trong ngôi trường “mô phạm” nhất cả nước.

PGS.TS Tô Bá Trượng - tác giả cuốn sách đã tạo động lực cho việc học tập suốt đời, để mỗi ngày chúng ta trở thành phiên bản tốt hơn.

            Tác giả cuốn sách, “Học tập của người lớn trong kỷ nguyên số - từ lý luận đến thực tiễn”, ngoài việc thụ đắc nền giáo dục Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ông còn may mắn được nhận nền giáo dục tiên tiến của Liên Xô khi là nghiên cứu sinh tại Đại học Sư phạm Mocova mang tên Lê nin. Trong góc nhìn hạn hẹp của tôi thì PGS.TS Tô Bá Trượng là người rất tâm huyết với nghề, với người, với đời.

            Nhận cuốn sách từ ông, tôi trân trọng, nâng niu, đọc.

            “Học tập của người lớn trong kỷ nguyên số - Từ lý luận đến thực tiễn” của PGS.TS Tô Bá Trượng được NXB Tri thức xuất bản cuối năm 2025. Cuốn sách gồm 3 phần, 10 chương, chưa kể lời cảm ơn của tác giả, lời giới thiệu và kết luận chung được viết trong 249 trang. Nội dung tổng quan của cuốn sách là công trình nghiên cứu khoa học được tổng hợp, tiếp cận đa chiều, liên ngành, khẳng định việc học tập của người lớn hôm nay là việc HTSĐ, là một động lực quan trọng, tiếp thêm sức mạnh nội sinh trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam cùng với kỷ nguyên sáng tạo trên thế giới, với kỷ nguyên vươn mình, đột phá của quốc gia, dân tộc. Cuốn sách được triển khai 3 phần, 10 chương trên mục lục.

Phần I: Cơ sở lý luận về học tập của người lớn (4 chương đầu, trang 5 đến 80). Phần II: Nội dung, chương trình và tổ chức học tập của người lớn (gồm 3 chương: 5, 6, 7, trang 81 đến 170). Phần III:  Đánh giá, chính sách và xu hướng phát triển việc học tập của người lớn (gồm 3 chương: 8, 9, 10, trang 171 đến hết). Trước khi đi vào từng phần nội dung cốt lõi trong sách, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc vài lý do khiến tôi mong muốn lan toả giá trị của cuốn sách này còn là cách tôi cùng các độc giả tiệm cận gần hơn với giáo dục hiện đại, tân tiến trong thời đại công nghệ số.

- Thứ nhất: Đây là cuốn sách tham khảo cho người dạy và học trong giảng dạy môn Văn hoá và phát triển hệ Cao cấp lý luận chính trị nói riêng ở cả 6 chuyên đề và thảo luận hết môn. Đặc biệt cuốn sách còn rất đáng giá đối với các giảng viên mới chuyển sang giảng dạy hệ CCLLCT, chưa nắm vững đối tượng người học của hệ đào tạo, bồi dưỡng này. Cuốn sách còn có thể tham khảo hỗ trợ cho nội dung học tập trong chương trình hệ Cao cấp lý luận chính trị nói chung bởi tính đúng đối tượng dạy - học, đúng xu hướng chuyển đổi số toàn diện của Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, của hệ thống giáo dục hiện đại toàn cầu hôm nay.

- Thứ hai: Cuốn sách đáp ứng các yếu tố khoa học giáo dục cần và đủ để làm tiền đề cơ sở cho việc dạy - học tự thân, đảm bảo bản chất trường Đảng, góp phần vào công cuộc khẳng định sự đúng đắn của các chủ trương, chính sách, chiến lược của Đảng, Nhà nước và hệ thống trường Đảng Việt Nam trong giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng người học học tập suốt đời (HTSĐ) để nâng cao năng lực toàn diện, đáp ứng các khát vọng cống hiến cho sự thịnh vượng, phát triển bền vững quốc gia, dân tộc.

- Thứ ba: Cuốn sách có giá trị bước đầu dùng khoa học Giáo dục học và các khoa học Xã hội liên ngành, khoa học Số hiện đại để chung tay bảo vệ khung khoa học cốt lõi cơ bản, bảo vệ chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ trong xây dựng, hoàn thiện  xã hội học tập suốt đời tại Việt Nam, hướng đến xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

- Thứ tư: Nội dung cốt lõi trong cuốn sách được triển khai cụ thể và người đọc có thể vận dụng như sau: Phần I: Cơ sở lý luận về học tập của người lớn gồm 4 chương đầu trình  bày những cơ sở lý luận nền tảng về học tập của người  lớn, từ khái niệm học tập suốt đời đến đặc điểm tâm lý, động cơ và năng lực số - yếu tố cốt lõi trong môi trường học tập hiện đại. Chương 1 cho thấy việc Học tập suốt đời (HTSĐ) là một triết lý học tập mang  tính thời đại, phản ánh yêu cầu khách  quan của xã hội tri thức và toàn cầu hóa. Từ những cơ sở lý luận của UNESCO, OECD và các học giả quốc tế, có thể thấy HTSĐ không chỉ là một khẩu hiệu hay xu hướng. HTSĐ là con đường tất yếu để phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu học tập - lao động, thích  ứng - sáng  tạo trong bối cảnh biến đổi như vũ bão  của khoa học - công nghệ. Ở Việt Nam, HTSĐ được Đảng, Nhà nước xác định là mục tiêu chiến lược, là nhiệm vụ lâu dài, thể hiện qua các nghị quyết, chiến lược Học tập và các đề án xây dụng xã hội học tập. Các mô hình như trung tâm học tập cộng đồng, gia đình - dòng họ học tập, thành phố học tập, công dân học tập đang góp phần hiện thực hóa HTSĐ trong đời sống. Con đường xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam còn nhiều  thách  thức về nguồn lực, chất lượng, sự tương đồng giữa các vùng miền còn cách biệt. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - cộng đồng, đồng thời cần phát huy vai trò của công nghệ số để mở rộng cơ hội học tập cho toàn dân. Có thể khẳng định HTSĐ là nền tảng của xã hội học tập và xã hội học tập lại chính là bệ phóng để Việt Nam hướng tới một quốc gia phát triển, nơi mỗi công dân là một “công dân học tập” trong kỷ nguyên tri thức và sáng tạo. Chương 2 trình bày những nội dung cốt lõi giúp định hình khái niệm và nền tảng lý luận của Học tập của người lớn trong bối cảnh hiện đại. Trước hết, việc nhận diện rõ khái niệm hoạt động học tập của người lớn là cơ sở để hiểu bản chất, phạm vi và ý nghĩa của lĩnh vực này. Sự khác biệt trong đặc điểm của người học trưởng thành so với trẻ em đòi hỏi phải xây dựng các nội dung, phương pháp và môi trường học tập phù hợp, nhấn mạnh đến tính tự chủ, ính tích lũy kinh nghiệm và nhu cầu thực tiễn của người học. Hoạt động học tập của người lớn không chỉ là yêu cầu cá nhân mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội trong thời đại tri thức và chuyển đổi số. Vai trò của học tập suốt đời đã được minh định như một trụ cột trong chính sách học tập hiện đại, thể hiện qua việc người lớn học tập để thích nghi, làm việc hiệu quả hơn, tham gia tích cực vào cộng đồng và phát triển bản thân. Chương 3 cũng trình bày các lý thuyết nền tảng Học tập của người lớn, bao gồm học thuyết học tập trải nghiệm học tập chuyển hóa, lý thuyết tự định hướng quá trình học tập và học thuyết xã hội. Những lý thuyết này đóng vai trò then chốt trong việc thiết kế hoạt động dạy - học phù hợp với người trưởng thành. Từ những cơ sở này, các chương tiếp theo sẽ đi sâu vào nội dung học tập, phương pháp tổ chức, cơ sở thực hiện và đánh giá quá trình Học tập của người lớn - nhằm phục vụ cho việc xây dựng một hệ thống Học tập suốt đời toàn diện, hiệu quả và nhân văn. Chương 4. Làm rõ một khía cạnh quan trọng quá trình Học tập của người lớn, đó là động cơ học tập, yếu tố thúc đẩy cá nhân tham gia và duy trì quá trình  học tập suôt đời. Trước hết, động cơ học tập ở người lớn mang đặc trưng cá nhân, gắn chặt chẽ với nhu cầu thực tế, mục tiêu nghề nghiệp và trải nghiệm sống của họ. Việc phân loại các động cơ như động cơ nghê nghiệp, động cơ xã hội, động cơ tri thức, hay động cơ tự thân... giúp nhà giáo dục có cái nhìn sâu sắc hơn để thiêt kê chương trình học phù hợp. Các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập rất đa dạng, bao gồm hoàn cảnh kinh tế, môi trường xã hội, mức độ hỗ trợ gia đình - cộng đồng, cũng như phong cách và phương pháp giảng dạy. Những biểu hiện cụ thể như tinh thần tự giác, nỗ lực vượt khó, khả năng duy trì học tập lâu dài... là chỉ dấu quan trọng để nhận diện và đánh giá động cơ của người học. Động cơ học tập giữ vai trò trung  tâm trong  quá trình Học tập của người  lớn, là nguồn  lực nội tại thúc đẩy họ tham gia và duy trì quá trinh  học một cách  tích cực, chủ động  và có định hướng. Thông qua việc tìm hiểu các khái niệm, phân loại, yếu tố ảnh hưởng, biểu hiện cụ thể và vai trò của người giáo viên - hướng dẫn viên, chương 4 cho thấy động cơ Học tập của người lớn mang tính đa dạng, phụ thuộc vào nhiều khía cạnh cá nhân, xã hội, kinh tế và học tập. Việc khơi gợi và phát triển động cơ học tập không chỉ dừng lại ở sự quantâm của người học mà còn đòi hỏi người giáo viên - hướng dẫn viên, nhà quản lý và người xây dựng chương trình cần phối hợp để tạo nên môi trường học tập thân thiện, thực tiễn, phù hợp với nhu cầu, năng lực và bối cảnh sống của người học. Qua đó, người học có thể xác lập được mục tiêu rõ ràng, cảm nhận được ý nghĩa của việc học và duy trì được sự hứng thú trong suốt quá trình học tập suốt đời. Đặc biệt, người  giáo viên - hướng  dẫn viên đóng  vai trò không thể thay thế trong việc khơi gợi, nuôi dưỡng và phát triển động cơ học tập, thông qua các phương pháp giảng dạy tích cực, lắng nghe người học, truyền cảm hứng và tạo môi trường học tập linh hoạt, thân thiện. Một số biện pháp như thiết kế nội dung gắn với mục tiêu thực tiễn, tạo cơ hội học tập đa dạng, thừa nhận giá trị của người học...được xác định là hiệu quả trong tăng cường động lực học tập. Như vậy, hiểu và phát huy động cơ học tập là chìa khóa đế xây dựng hoạt động Học tập của người lớn linh hoạt, nhân văn và hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu phát triển cá nhân, nghề nghiệp và xã hội trong bối cảnh hiện đại. Chương này là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc thiết kế chương trình, xây dựng phương pháp giảng dạy cũng như tổ chức các hoạt động Học tập của người lớn một cách hiệu quả và bền vững.

Phần II: Nội dung, chương trình và tổ chức học tập của người lớn gồm 3 chương 5,6,7, đi sâu vào việc thiết kế nội dung, chương trình và tổ chức hoạt động học tập phù hợp với người trưởng thành, đồng thời đề xuất các mô hình tổ chức hiệu quả trong bối cảnh chuyển đổi số.

Chương 5 phần II đã làm rõ những nguyên tắc nền tảng và phương pháp tiếp cận trong việc xây dựng nội dung cũng như thiết kế chương trình học tập cho người lớn. Khác với học tập trẻ em, người lớn đến với học tập với những mục đích rõ ràng, mang tính thực tiễn cao, đòi hỏi nội dung học tập phải sát thực tế, linh hoạt và phù hợp với kinh nghiệm sống và nhu cầu cá nhân của họ. Cấu trúc nội dung  học tập cho người  lớn cần phải đảm bảo  tính hệ thống, đồng  thời đủ mở để tạo điều kiện cho người  học chủ động lựa chọn  và điều chỉnh  theo mục  tiêu cá nhân. Các loại hình chương trình học tập đa dạng - từ các lớp bổ túc, chương  trình  đào tạo nghề, đến các khóa học ngắn hạn theo nhu cầu - đều góp phần hình thành nên hệ sinh thái học tập suốt đời. Việc thiết kế chương trình Học tập của người lớn cần dựa trên việc phân tích nhu cầu thực tế, mục tiêu học tập cụ thể, đặc điểm người học và điều kiện tổ chức. Các ví dụ minh họa đã cung câp một cái nhìn cụ thể về cách chuyển hóa lý thuyết thành thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc Học tập của người lớn. Như vậy, nội dung và chương trình học tập khôngch là phương tiện truyền đạt tri thức mà còn là công cụ quan trọng để khơi dậy động lực, phát huy năng lực và định hướng phát triển cá nhân của người học suốt cuộc đời. Chương 6 đã khái quát một cách hệ thốngnhững vấn đề cốt lõi của việc tổ chức hoạt động học tập cho người lớn trong bối cảnh kỷ nguyên số. Từ việc nhận diện đặc điểm học tập riêng biệt của người lớn, chương 6 đã xác lập các nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập hiệu quả, đồng thời chỉ ra những hình thức đa dạng và linh hoạt có thể vận dụng trong thực tiễn. Quy trình tổ chức hoạt động học tập được đề xuất theo hướng  bảo đảm tính cá nhân hóa, thực tiên và ứng dụng, qua đó hỗ trợ người  học phát huy kinh nghiệm,  động  lực và tính chủ động của chính  mình.Vai trò của giáo viên - hướng dân viên được nhân mạnh như một tác nhân then chốt trong việc thiết kế, điều phối và thúc đẩy hoạt động học tập, đặc biệt khi công nghệ số ngày càng mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, phương  thức tương  tác và không  gian học tập. Các mô hình học tập người lớn tiêu biểu được phân tích cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các nền tảng linh hoạt, học tập kết hợp và học tập dựa trên cộng đồng tri thức. Bên cạnh những cơ hội lớn, chương cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong tổ chức học tập cho người lớn như rào cản công nghệ, sự không đồng đều về động lực và năng lực số, hay hạn chế về nguồn lực tổ chức. Trên cơ sở đó, các giải pháp đề xuất hướng  đến tăng cường  thiết kế học tập lấy người học làm trung tâm, ứng dụng hiệu quả công nghệ số, phát triển đội ngũ giáo viên - hướng dẫn viên và xây dựng các mô hình học tập bền vững, linh hoạt. Nhìn chung, tổ chức hoạt động  học tập cho người lớn trong  kỷ nguyên  số không chỉ là việc đổi mới phương pháp, mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện môi trường, công cụ và trải nghiệm học tập. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để bước sang Chương 7 - nơi phân tích sâu hơn các xu hướng phát triển và định hướng đi mới hoạt động học tập người lớn trong tương lai. Chương 7 khẳng định rằng hệ thống các cơ sở Học tập của người lớn không chỉ là nơi cung cấp cơ hội học tập cho những nhóm đối tượng khác nhau, mà còn là nền tảng cấu thành của xã hội học tập trong bối cảnh phát triển đất nước. Việc phân loại rõ các loại hình, xác định vai trò và mối quan hệ giữa chúng với hệ thông giáo dục quốc dân giúp nhận diện đầy đủ hơn chức năng của từng cơ sở và mở ra hướng liên thông - tích hợp trong chính sách. Tuy vậy, sự phát triển các cơ sở Học tập của người lớn hiện naỵ vân phải đối mặt với nhiều thách thức như cơ chế quản lý chưa đông bộ, nguôn lực hạn chế, hạ tầng số chưa tương xứng và mức độ tham gia của cộng đồng còn chưa cao. Vì vậy, chương đã đê xuât các định hướng phát triển trong thời kỳ chuyển đổi số và nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện chính sách, đổi mới quản trị, thúc đẩy liên kết và đầu tư phát triển hệ sinh thái học tập suốt đời. Những phân tích và gợi ý trong chương là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở Học tập của người lớn trong tương lai.

Phần III:  Đánh giá, chính sách và xu hướng phát triển việc học tập của người lớn gồm 3 chương 8, 9, 10, phản ánh sự đổi mới trong đánh giá, công nhận kết quả học tập và đặc biệt là xu hướng phát triển học tập của người lớn trong kỷ nguyên số; năng lực số, ứng dụng các công nghệ tiên tiến như blockchain, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội trong giáo  dục người lớn. Chương 8 phân tích những định hướng cốt lõi trong việc xây dựng hệ thống đánh giá kết quả học tập dành cho người lớn trong bối cảnh đổi mới học tập và thúc đấy học tập suốt đời. Từ việc chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực, đến đảm bảo tính linh hoạt, công nhận  kết quả học tập không chính quy, phi chính quy và gắn kết hệ thống đánh giá với chuẩn đầu ra và Khung trình độ quốc gia, tất cả đều nhàm hướng tới một hệ thống đánh giá toàn diện, công bằng và hỗ trợ phát triển người học. Các định hướng này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo người lớn mà còn khuyến khích người dân chủ động học tập, tự đánh giá và phát triển bản thân liên tục trong suốt cuộc đời. Để hiện thực hóa những  định hướng  này, cần có sự đồng  bộ từ thể chế chính sách, năng lực đội ngũ, cơ sở dữ liệu học tập đến sự tham  gia của cộng đồng, cơ sở học tập và doanh  nghiệp. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai hiệu quả các chương trình  Học tập của người  lớn trong  giai đoạn  mới, hướng  tới một xã hội học tập, nơi mỗi công dân đều có cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng  cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển bền vững  của quốc gia.

Chương 9 kết luận Học tập của người lớn là một bộ phận quan  trọng trong  hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo quyên học tập suôt đời cho mọi người dân.

Trong bối cảnh mới, với sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn câu hóa, chuyên đổi số và xã hội học tập, Học tập của người lớn không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là yêu cầu tất yêu của sự phát triên quôc gia và hội nhập quốc tế. Quá trình học tập của người lớn mang những đặc trưng riêng biệt so với học tập trẻ em và thanh thiếu niên, đòi hỏi cách tiêp cận linh hoạt, lấy người học làm trung tâm, gắn với thực tiên cuộc sống và công việc. Điều này đặt ra những yêu câu mới trong việc xây dựng chương trình, phương pháp giảng dạy, tổ chức hoạt động, cũng như đánh giá kết quả học tập của người lớn. Hệ thống cơ sở Học tập của người lớn tại Việt Nam hiện nay còn phân tán, thiếu liên thông, chưa đáp ứng được nhu câu đa dạng của người học. Việc đổi mới tư duy quản lý, phát tnên cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và tăng cường phối hợp giữa các chủ thể liên quan là những định hướng cần thiết nhằm phát triển Học tập của người lớn theo hướng  hiện đại, hiệu quả và bền vững. Trong thời kỳ chuyển đổi số và học tập suốt đời, Học tập của người lớn cần được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Các chính sách cần tập trung vào đảm bảo quyền học tập suốt đời, xây dựng hệ sinh thái học tập mở, linh hoạt, đa dạng về hình thức và nội dung, phát triển các mô hình học tập trực tuyến - kết hợp - trải nghiệm, và đảm bảo công bằng trong tiếp cận học tập cho mọi đối tượng người lớn, đặc biệt là các nhóm yếu thế.

      Kết luận chung: Cuốn sách “Học tập của người lớn trong  kỷ nguyên  số" cung cấp một cái nhìn toàn diện về lý luận, thực tiễn và định hướng  phát triển của Học tập của người lớn trong bôi cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển  mình mạnh mẽ dưới tác động của toàn câu hóa và chuyển  đổi số. Từ việc lý giải bản chất, đặc điểm và động lực học tập của người trưởng thành, đến phân tích các nguyên tắcc, hình thức,  phương  pháp tổ chức  hoạt động  học tập và cơ chế đánh  giá kết quả, nội dung cuốn sách không  chỉ dừng  lại ở phương  diện lý luận mà còn hướng tới thực hành  - giúp người đọc hiểu sâu, làm đúng và phát triển sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục người  lớn. Đặc biệt, “Chương 10: Kỹ năng số - chìa khóa học tập của người lớn” nhấn mạnh vai trò then chốt của năng lực sô như một điều kiện nền tảng để người học trưởng thành có thể tiếp cận tri thức, tương tác trong môi trường số, làm chủ công ghệ và tham gia vào xã hội học tập mở, linh hoạt, kết nối suốt đời. Trong kỷ nguyên số, học tập không còn giới hạn bởi không gian, thời gian hay hình thức; người học cần có năng lực tự định hướng, kỹ năng số và tinh thần học tập liên tục để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của tri thức và nghề nghiệp. Nội dung cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục, giảng  viên, hướng  dẫn viên, cũng  như những ai quan tâm đến sự phát triển Học tập của người  lớn và giáo dục suốt đời. Cuốn sách không chỉ góp phần củng cố nền tảng lý luận và thực tiễn cho lĩnh vực giáo dục người lớn ở Việt Nam, mà còn hướng đến mục tiêu cao hơn là thúc đẩy sự hình thành xã hội học tập, nơi mọi người đều có cơ hội học tập, phát triển và cống hiến suốt cuộc đời.

       Hạn chế của cuốn sách theo chủ kiến của tôi - một người đọc. Phần 4 xuất hiện trong lời giới thiệu. Là phần “mở rộng tầm nhìn cho người đọc về xu hướng và định hướng phát triển học tập của người lớn tại Việt Nam và trên thế giới, nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp và cộng đồng trong xây dựng xã hội học tập”. Rất tiếc phần này lại chưa hiện hữu cụ thể trong triển khai nội dung thành chương mục. Người đọc  lật tìm và trăn trở, tự hỏi đây là nhầm, lơ đãng chút xíu của tác giả, của biên tập duyệt in cuốn sách hay là sự bỏ ngỏ có chủ ý của người viết để độc giả tự tìm kiếm, tự hoàn thiện từ góc nhìn cá nhân, từ thiên kiến tại vị trí công tác, sống và học tập của người đọc?! Nếu cần điều chỉnh cho độc giả dễ tiếp cận, chương 9 và 10 có thể tách riêng thành phần 4. Nếu tác giả chủ ý bỏ ngỏ phần 4 thì dấu hiệu nhận diện cho nội dung mở tầm nhìn cho độc giả về xu hướng và định hướng việc học tập suốt đời cho người lớn Việt Nam chính là phân tích khái quát ban đầu trong chương 9,10.   

Vài nội dung cần trao đổi và thảo luận sau khi đọc cuốn sách:

-  (1) Giảng viên nên làm gì để nội dung trong cuốn sách có thể thực sự hỗ trợ mỗi cá nhân và trở thành nguồn động lực cho việc học tập sốt đời?                                                                                                                

-  (2) Động cơ học tập của mỗi cá nhân hiện nay là gì? Chia sẻ và nêu các yếu tố ảnh hưởng tới động cơ học tập hiện tại của bản thân?

-  (3) Giảng viên hệ Cao cấp lý luận chính trị có thể học hỏi được gì từ cuốn sách để hướng dẫn học viên tự học, có phương thức và động lực HTSĐ, hoàn thiện, nâng cấp bản thân, đáp ứng thực tiễn đòi hỏi nguồn nhân lực số?                                                                       

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).